Từ Hiện Sinh Đến Đản Sinh

23/04/201716:22(Xem: 7015)
Từ Hiện Sinh Đến Đản Sinh


Duc Phat Dan Sanh-1


Từ Hiện Sinh Đến Đản Sinh

Tâm Huy Huỳnh Kim Quang


 

Có những bước chân thật lầm lũi, lầm lũi đến mức độ từ khi đến cho tới khi đi đều không tác tạo một âm ba nào, tưởng chừng như không là một hiện hữu! Nhưng cũng có những bước chân qua đi rồi mà vẫn còn vang dội mãi đến ngàn sau, tưởng chừng như muôn ngàn hiện hữu.

Khi một hiện hữu làm linh hiện ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn của nó, cả ba ngàn đại thiên thế giới đều rung động. Dòng hiện sinh của nó là những cung bậc hòa điệu với giao hưởng khúc thiên thu của vũ trụ.

 

“Người nằm xuống cho ngàn năm vang bóng

Ta bước qua từ ngữ rụng hai lần

Tờ sa mạc như bôi phong tẩy địa

Trút linh hồn dường như thể như thân” (Bùi Giáng)

 

Nhưng, hiện hữu là gì? Hiện sinh là gì? Con người là gì? Ta là gì? Ta là ai?

Rõ ràng là một trò đùa lẩn quẩn! Hỏi tức là hỏi về một cái gì. Sự kiện này có nghĩa là có ít nhất hai sự thể hiện hữu, hiện hữu với chủ thể tính và khách thể tính. Hỏi tức là vươn tới một cái gì, tìm tòi một cái gì, chờ đợi một cái gì - một cái gì như là đối tượng. Sự kiện này có nghĩa là chủ thể tính hỏi còn mông muội về đối tượng được hỏi. Từ những sự kiện trên, người ta có thể thấy được rằng đặt tra vấn - Hiện hữu là gì? Hiện sinh là gì? Con người là gì? Ta là gì? Ta là Ai? – là một tra vấn về những tra vấn, hay nói cách khác, là một câu hỏi được hỏi về những câu hỏi. Đây là một bế tắc, một bế tắc không thể vượt qua bằng những tra vấn có tính cách ước lệ.

Trong ý nghĩa đó, ngày nào mà một hiện hữu chưa làm linh hiện được ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn của nó thì ngày đó cuộc đời vẫn còn là một tra vấn, một câu hỏi, một sự lầm lũi phong kín! Đạo Phật gọi tình trạng đó là vô minh, là một cơn đại mộng.

 

“Xử thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh” (Lý Bạch)

Trần gian là giấc mộng dài

Làm chi cho mệt một đời phù sinh.

 

Hay như trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa:

 

“Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào ảnh,

Như lộ, diệc như điễn;

Ưng tác như thị quán”.

 

Hãy quán sát tất cả các pháp có tạo tác đều như giấc mộng, không thực, bọt nước, sương, điện chớp.

Là một tra vấn, một cuộc hành trình lầm lũi, một cơn đại mộng, kiếp người như là lữ hành mù lòa, quờ quạng trong đêm tối, như là cánh bèo trôi giạt theo dòng thác lũ vô minh, nghiệp lực! Chúng ta không biết mình là gì, không biết mình là ai! Chúng ta vay mượn kiến thức, vay mượn ngữ ngôn của thế giới ước lệ, vay mượn vai trò diễn viên trên sân khấu cuộc đời để thao tác, để múa may quay cuồng một thời rồi ra đi, rồi trở lại. Đâu là chỗ khởi đầu? Đâu là nơi chung cuộc? Không biết! Chúng ta không biết gì về mình, không biết gì về người.

Tại sao chúng ta phải hiện hữu, thay vì không?

Trong cơn đại mộng này, trong cuộc hành trình lầm lũi này, chúng ta thường trực cưu mang những lo âu sợ hãi, những vui buồn phiền muộn, những bất an xáo trộn. Chúng ta vay mượn danh ngôn của thế giới ước lệ để biến chúng thành sự thỏa mãn tạm thời hay mối đe dọa thường xuyên đối với chúng ta. Chúng ta đặt ra những quy ước, những phạm trù cho phương cách tư duy, lý luận và hành động để buộc trói mình, để áp đặt lên tha nhân. Cuối cùng tất cả đều không có lối thoát. Huyễn sinh vì vậy đã thành phù sinh.

 

“Thảo nào khi mới chôn nhau, 

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra ! 

Khóc vì nỗi thiết tha sự thế, 

Ai bày trò bãi bể nương dâu, 

Trắng răng đến thuở bạc đầu, 

 Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần. 

Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc, 

Lớp cùng thông thiêu đốt buồng gan, 

Bệnh trần đòi đoạn tâm can, 

Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da. 

Gót danh lợi bùn pha sắc xám, 

Mặt phong trần nắng rám mùi dâu, 

Nghĩ thân phù thế mà đau, 

Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”.                                                                                                                                                                

(Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc)

 

Giờ đây cuộc hành trình lầm lũi đã lạc sâu vào mê cung tăm tối, cơn đại mộng đã thành cơn ác mộng.

Cũng có thể sự thực không như vậy. Tại sao ta phải tra vấn về mình, tra vấn về hiện hữu, tra vấn về con người? Tại sao ta phải áp đặt những tra vấn lên một thực tại đang sống, đang có mặt sờ sờ ra đó? Ta đang có mặt, có nghĩa là ta đang hiển hiện với ý nghĩa hiện sinh. Tại sao ta phải chối bỏ mình, chối bỏ một hiện hữu đang hiện thực? Không! Ta đang sống có nghĩa là ta đang hiện hữu và ta phải sống trọn vẹn với những gì ta đang có. Ta có quyền buồn, vui, phiền muộn. Ta có quyền say sưa hưởng thụ. Làm linh hiện ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn không phải là sống trọn vẹn với giây phút hiện tiền mà ta đang hiện hữu đó sao?

Nhưng có một sự thật mà ta không thể chối cãi. Đó là sau những cơn say, sau những phút giây cuồng nhiệt, ta thấy mình trống rỗng, ta thấy mình mất thăng bằng trên nhịp sống bình thường, như thể ta bị đánh rơi xuống vực thẳm. Trong những trạng thái đó, thế giới chung quanh ta bỗng trở nên xa lạ, cô liêu và quạnh quẽ khác thường. Ta nghe được sự thiếu vắng mênh mông trong thân phận một kiếp người. Thì ra ta chưa hề hiện hữu một cách thường trực và thực tại. Tại sao? Ta là gì? Con người là gì? Ta có thực sự hiện sinh không?

Lại những câu hỏi về những câu hỏi!

Lúc con người chìm sâu trong sự cô đơn, trống vắng là lúc nó đối mặt với chính nó thực sự. Nhưng chúng ta sợ hãi sự cô đơn, sợ hãi sự trống vắng. Chúng ta tìm mọi cách để trốn chạy. Chúng ta khát khao muốn tìm lại mình, nhưng bằng phương thức trốn chạy, nên chúng ta vĩnh viễn không biết mình là gì. Sự khát khao muốn tìm lại mình và muốn biết mình là gì chính là nỗi khát khao muôn thuở của con người, của hiện hữu. Nó còn có thể được coi như là mục tiêu tối thượng của đời sống. Vì mọi tra vấn, mọi khúc mắc, mọi vấn đề của con người, của cuộc đời đều được giải tỏa khi chúng ta làm hiển hiện một cách trọn vẹn ý nghĩa hiện sinh của mình.

Sự Đản Sinh của đức Phật là đánh dấu cho một triêu dương của nhân loại, của vạn hữu trên khai lộ của sự thức giác và làm linh hiện ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn. Và cuộc đời của Ngài đã là hình ảnh linh hiện của ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn. Trong đó, tri kiến như thật về thực tại là một trong những thông điệp mà ngài đã trao lại cho nhân loại. Tri kiến như thật về thực tại nghĩa là thực tại như thế nào thì thấy biết như thế đó. Chúng ta đã vay mượn quá nhiều danh ngôn của thế giới ước lệ, những gì chúng ta có về tư duy, lý luận và hành động đều là vay mượn, không có gì đích thực là của chính chúng ta. Rồi hãy lắng nghe thực tại bằng cả tính mệnh của mình:

“Trên tất cả, chàng học từ nó cách lắng nghe, lắng nghe với trái tim bình lặng, với chờ đợi, mở lòng, không cảm xúc, không ham muốn, không phán đoán, không quan điểm.” (Hermann Hesse, Siddhartha)

Lắng nghe thực tại trọn vẹn, con người sẽ giao cảm và hiểu được thực tại. Hiểu được thực tại cũng có nghĩa là hiểu được mình. Hiểu được mình là hiểu được Như-Lai.

 

“Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhơn hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai”.

(Kinh Kim Cang)

 

Nếu dùng hình sắc tướng để thấy Phật, dùng âm thanh để cầu Phật, thì người đó đã làm sai, không thể thấy được Phật.

Không từ hình danh sắc tướng mà thấy được Như Lai, vì Như Lai là vô tướng. Vô tướng thì sinh mà không sinh, diệt mà không diệt, tức là đệ nhất nghĩa đế, là thực tại.

“Như lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ.” (Kinh Kim Cang) Như lai là không từ đâu đến mà cũng không đi về đâu.

Đến mà không từ đâu, đi mà chẳng về đâu, tức là đã làm linh hiện được ý nghĩa hiện sinh tuyệt đối.

Trong ý nghĩa đó, Đản Sinh không chỉ là sự ra đời của một bậc vĩ nhân cách đây trên hai ngàn sáu trăm bốn mươi mốt năm về trước. Đản sinh là triêu dương bừng sáng lên ý nghĩa hiện sinh tuyệt đối của vạn hữu qua mọi thời đại.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/08/2015(Xem: 13210)
Một bài phóng sự của nữ ký giả Nathalie Lamoureux về Lâm-tì-ni (Lumbini), khu vườn nơi đản sinh của Đức Phật, đã được đăng tải và đưa lên trang mạng của tạp chí hàng tuần Le Point của Pháp số ngày 21 tháng 7 năm 2015. Lâm-tì-ni đã từng rơi vào sự quên lãng của con người từ bao thế kỷ và không còn ai biết là ở đâu. Mãi đến năm 1896, dựa theo những lời thuật lại trong nhật ký của nhà sư Trung Quốc Pháp Hiền, sau chuyến hành hương và tu học ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ V, các nhà khảo cổ người Anh đã khám phá ra một trụ đá của hoàng đế A-dục (từ -304 đến -232, trước Tây Lịch) cạnh một ngôi làng nghèo nàn là Rummindei của xứ Népal. Trên trụ đá có ghi khắc các dòng chữ cho biết Đức Phật đản sinh ở nơi này.
14/06/2015(Xem: 11732)
Vào sáng chủ nhật ngày 14 tháng 6 năm 2015, Tu viện Huyền Không tọa lạc tại 14335 Story Road, thành phố San Jose, Hoa Kỳ đã long trọng tổ chức Đại lễ Phật Đản 2.639, Phật lịch 2.559. Khoảng 700 thiện nam, tín nữ, Phật tử ở San Jose và các thành phố lân cận đã về tu viện nghe giảng pháp, tụng kinh, tắm Phật và xem văn nghệ.
14/06/2015(Xem: 10147)
Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo tọa lạc tại số 8962 Emerald Ave. Thành Phố Westiminster, CA 92683. (Góc Magnolia, Giữa Mc fadden & Edinger) do Thượng Tọa Thích Tâm Bình làm Viện Chủ. Đã long trọng tổ chức Đại Lễ Phật Đản Phật Đản PL.2559-2015 tại Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo vừa qua dưới sự chứng minh của Chư Tôn Đức Tăng Ni và rất đông đồng hương Phật tử tham dự. Nhân dịp nầy, Thượng Tọa Viện Chủ xin thành kính cảm tạ tri ân chư tôn đức Tăng, tri ân và tán thán công đức của quý Phật Tử đạo tràng Linh Sơn Pháp Bảo, quý Phật Tử Chùa Địa Tạng Santa Ana, Đài Hồn Việt TV, Ông George Canfield, Ca sỹ Đỗ Thanh, Triệu Mỹ Ngân, Nhóm Dhrama.Care, và các vị ân nhân đã đóng góp vật chất và tinh thần trong Phật sự được thành tựu viên mãn.
14/06/2015(Xem: 9884)
Lễ Phật Đản 2639 tại Chùa Long Quang, Sydney
10/06/2015(Xem: 7028)
Phật Đản đã qua, khởi đầu cho mùa an cư, nhưng dư âm mùa Đại lễ 2639 vẫn còn lưu lại khá sâu trong tâm của người Phật tử. Trên thế giới, những nước có mặt Phật giáo đều long trọng tổ chức đón mừng Khánh đản từ phụ Thích Ca Mâu Ni mà 2559 trước đó được gọi là Thái tử Sĩ Đạt Ta.
09/06/2015(Xem: 7621)
Vào ngày 30/05/2015, Phật Quang Sơn Tây Ban Nha tổ chức Đại Lễ Phật đản PL. 2559, cử hành Pháp hội Tắm Phật do Pháp sư Diệu Huấn, Giám Tự Phật Quang Sơn Tây Ban Nha, Trưởng ban Tổ chức, Pháp sư Diệu Diễn, Giám tự Phật Quang Sơn Bồ Đào Nha đồng tổ chức. Sự kiện thu hút cộng đồng Đài Loan, Tây Ban Nha cùng đến tham dự lễ có sự hiện diện của Cư sĩ Chu Kiện, Tham tán Cục lãnh sự quán nước Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) ở Tây Ban Nha, Cư sĩ Loan Phong, Đại sứ nước Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) ở Tây Ban Nha, Cư sĩ Từ Tùng Hoa, Hội trưởng Hội Xúc tiến Hòa bình Thống nhất Tây Ban Nha, Cư sĩ Lý Nhữ Long, Cố vấn Hội Quốc tế Phật Quang Sơn Thủ đô Madrid, Tây Ban Nha, Cư sĩ Ngô Kim Lan. . . 500 người tham dự lễ trong bầu không khí trang nghiêm trọng thể.
07/06/2015(Xem: 11362)
Đại Lễ Phật Đản Và An Vị Phật Tại Chùa Bảo Thành Koblenz Ngày 06.06 Đến 07.06.2015. Mỗi năm hoa Vô Ưu lại nở một lần, những người con Phật sống trên trái đất nói chung và ở nước Đức nói riêng, mọi người đều hân hoan, như muôn triệu con tim cùng hòa chung một nhịp đập, hân hoan kỷ niệm ngày Đản sinh của đức Từ Phụ. Hình ảnh của đức Thế Tôn là một bài ca bất tuyệt. Năm nay 2015 tại Grafen Str 2 Koblenz Chùa Bảo Thành do Ni Sư Thích Nữ Minh Hiếu Trụ trì, phát tâm kiến lập ngôi Tam Bảo mặc dù chưa được hoàn tất nhưng Ni Sư cũng tranh thủ tổ chức đón mừng Đại Lễ Phật Đản, và An Vị Phật tại chùa. Trong 2 ngày đại lễ 06.06.2015 đến 07.06.2015 có Hòa Thượng Thích NHư Điển Phương Trượng chùa Viên Giác Đức quốc chứng minh, có Thượng Tọa Thích Tâm Huệ trụ trì chùa Trúc Lâm Thụy Điển và Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm, Ni Trưởng chùa Bảo Quang cùng Ni chúng chùa Bảo Quang Hamburg. Có Thượng Tọa Thích Giác Trí, các Sư Cô chùa Viên Giác, trên năm trăm (500) Phật tử tại địa phương và v
07/06/2015(Xem: 21835)
Lễ Phật Đản & Lễ Hoàn Nguyện Chùa Giác Hoàng, Victoria
07/06/2015(Xem: 9338)
Lễ Phật Đản lần thứ 2639 tại Tăng Xá Bắc Linh, Nam Úc, Chủ nhậ, 7-6-2015
07/06/2015(Xem: 13025)
Vào sáng chủ nhật ngày 07 tháng 6 năm 2015 (ngày 21 tháng 4 năm Ất Mùi), chùa Bảo Phước tọa lạc tại 270 Senter Road, thành phố San Jose đã tổ chức trang nghiêm, trọng thể Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2.559. Đông đảo chư Tôn đức Tăng, Ni và các thiện nam, tín nữ, Phật tử ở thành phố San Jose và nhiều thành phố ở cả hai miền Bắc, Nam tiểu bang California về dự lễ. Đại lễ bắt đầu bằng tiếng pháo tưng bừng, tiếng trống lân rộn ràng của đoàn lân dẫn đoàn cung thỉnh chư Tôn đức Tăng, Ni quang lâm lễ đài.