Đọc bài thơ Thiền Trà của Hòa Thượng Thắng Hoan

04/02/202607:14(Xem: 1047)
Đọc bài thơ Thiền Trà của Hòa Thượng Thắng Hoan


HT Thich Thang Hoan

Chen_Tra_Tao_Khe_13


ĐỌC BÀI THƠ THIỀN TRÀ CỦA HÒA THƯỢNG THẮNG HOAN

Hàn Long Ẩn TTL

Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.

Cố Trưởng lão Hòa thượng Thắng Hoan, khi sinh tiền, đã ghé chùa Thiên Trúc, San Jose, chúng tôi vài dạo. Mỗi lần như vậy, tôi thường đọc cho Hòa thượng nghe một vài bài thơ do tôi sáng tác; và Hòa thượng cũng vậy, Ngài đọc cho tôi nghe vài bài thơ do chính Ngài sáng tác, nói về cuộc sống và công hạnh tu tập của mình, rồi cười một cách sảng khoái.

Sáng nay, tôi vừa đọc vừa tưởng tượng từng câu, từng chữ, như thể Ngài đang ngồi trước mặt tôi mà đọc thơ vậy:

Ta ngồi đây bến giác
Sẵn bên kỷ thiền trà
Với trầm hương giải thoát
Thưởng thức Ưu Đàm Hoa.

Tôi đang mường tượng có một vị thiền sư ngồi nơi góc hiên vắng, bên bộ kỷ trà, xông một lò trầm hương khói bay lãng đãng, chậm rãi uống từng ngụm trà “Ưu đàm hoa”. Thực ra, “uống trà Ưu đàm hoa” hay “thưởng thức Ưu đàm hoa” là cách nói của bậc xuất trần thượng sĩ đã thấy pháp. Bởi Ưu đàm hoa (優曇花, Udumbara), theo kinh Phật diễn tả, là loài hoa ba nghìn năm mới nở một lần, vô cùng hy hữu và linh thiêng. Khi hoa nở là điềm lành lớn xuất hiện: Đức Phật xuất thế, Chuyển Luân Thánh Vương ra đời, Chánh pháp hưng long… Tôi nghĩ tác giả đang an trú trong chính phút giây hy hữu ấy.

Bờ kia trường biển mộng
Vạn vật không ngừng trôi
Trên dòng đời di động
Họ tưởng rằng an vui.

Biển chiếm hơn bảy mươi phần trăm diện tích của quả địa cầu này, nhưng đối với tác giả, đó là “biển mộng”. Không chỉ là mộng đơn thuần, mà còn là “trường biển mộng”, tức giấc mộng dài triền miên trong vô lượng kiếp luân hồi. Vạn vật trôi đi trong dòng chảy của kiếp phù du. Nhưng mấy ai là người thấy được “biển mộng”, thấy được tính “phù du” ấy, hay vẫn mãi đeo đuổi, bám víu, chấp trước vào cái giả huyễn rồi cho rằng đó là “an vui”?

Phù sinh bao thế hệ
Biến thiên mấy nhịp cầu
Sầu biệt ly đẫm lệ
Rơi thấm kiếp ngàn dâu.

Chấp huyễn cho là chân, chấp mê cho là ngộ — đó là căn bệnh chung của những ai chưa thấy được thực tướng của các pháp. Bao nhiêu thế hệ đã trôi qua, bao nhiêu nhịp cầu đã đổi thay, bao nhiêu nỗi sầu ly biệt đẫm lệ giữa khói sương nhân thế? Có lẽ tác giả đã từng nếm trải, hoặc đã chứng kiến tận tường những vị đắng cay ấy trong những thăng trầm của đời sống trước đây, nên Ngài không chỉ nói với chính mình, mà còn nói với bao thế hệ.

Tuy họ về quá khứ
Nhưng ta vẫn ngồi đây
Ra ngoài vòng sinh tử
Còn chi có đổi thay.

“Họ” đã về quá khứ. “Họ” có thể là cả chủ thể lẫn đối tượng. Cái chủ thể “họ” xưa kia thiếu tuệ giác, nay đã đầy đủ tuệ tri; nên “ta” vẫn ngồi đây, thong dong uống trà “Ưu đàm hoa”, lòng lâng lâng bay bổng như một áng mây nhẹ tênh trôi qua bầu trời. Khi đã ra ngoài vòng sinh tử, thì còn gì nữa để đổi thay?

Ta ngồi từ vô thỉ
Nơi bờ giác uống trà
Sáng soi trăng trí tuệ
Độc tấu bản thiền ca.

Tác giả, hay thế nhân, lẽ ra đã ngồi uống trà “Ưu đàm hoa”, độc tấu bản thiền ca hạo nhiên từ cổ độ — nơi ánh trăng trí tuệ tràn ngập không gian, nơi bờ giác an vui như Đức Thế Tôn đã từng lịch nghiệm. Nhưng cũng không sao, bởi thực tại “đang là” của bản lai diện mục vốn vô thủy vô chung. Khi nào có ánh trăng của tuệ giác rọi soi, thì ở đó có an nhiên tự tại. Và ánh trăng ấy, muôn đời, vẫn tràn ngập khắp không gian mênh mông.

Uống ly trà sáng nay, được cùng thi nhân trải nghiệm một chút hương vị “Ưu đàm hoa” trong bài thơ Thiền Trà, thật là một điều vô cùng thú vị.

 

Chùa Thiên Trúc – San Jose
Mùa thu 2025

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 13778)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13327)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25116)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52151)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16178)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11591)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19288)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 13838)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 18600)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 17389)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)