Đừng tưởng (thơ)

19/05/201008:55(Xem: 16178)
Đừng tưởng (thơ)

Đừng tưởng!
buigiang-chandung

Đừng tưởng cứ trọc là sư

Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang

Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say

Cứ chân là bước cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ

Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân

Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh

Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên

Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn

Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng giàu hết cô đơn

Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

Đừng tưởng cứ gió là mưa

Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve

Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn

Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu

Đừng tưởng cứ thích là liều

Nhiều khi nhầm tưởng bao điều bớt thêm

Đừng tưởng đời mãi êm đềm

Nhiều khi dậy sóng, khó kiềm bản thân

Đừng tưởng cười nói ân cần

Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường

Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

Đừng tưởng cứ chọc là cười

Nhiều khi nói móc biết lòi thấp cao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao

Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay

Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm

Là đời tươi sáng trở nên đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung

Chỉ là lợi dụng mánh mung làm nền

Đừng tưởng cứ tiến là lên

Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng

Trời giăng mây xám tối băng đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu

Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn

Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong

Đừng tưởng có chức là rồng

Đừng tưởng dân chúng là không biết gì

Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

Bùi Giáng


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 15209)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 13779)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13329)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25117)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52157)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
16/05/2010(Xem: 11593)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19288)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 13839)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 18601)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 17391)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)