Cảm Nghĩ Về Việc Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Trong Thời Đại Ai

19/12/202520:28(Xem: 3321)
Cảm Nghĩ Về Việc Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Trong Thời Đại Ai

tri tue nhan tao-ai
CẢM NGHĨ VỀ VIỆC
PHIÊN DỊCH ĐẠI TẠNG KINH TRONG THỜI ĐẠI AI


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nhận được Ý NGHĨA ĐẠI HỘI trong bản thông tin gửi đi cũng như lời kêu gọi tham gia trực tuyến qua hệ thống Zoom, để tạo cơ hội cho chư Tôn Đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử, học giả và thiện hữu tri thức khắp năm châu cùng tham dự, chia sẻ và đóng góp ý kiến xây dựng trong tinh thần hòa hợp và phụng sự.
Với những lời thâm tình tha thiết “Đại Hội Hoằng Pháp lần thứ III không chỉ là dịp tổng kết và định hướng Phật sự, mà còn là cơ hội kết nối Tăng Ni – Cư sĩ – học giả trong tinh thần “Hoằng Pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp.”và để cùng nhau tiếp nối ngọn đuốc trí tuệ và từ bi mà Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ cùng chư vị Tổ sư đã truyền trao.

ConPhật Tử Huệ Hương sau khi tham dự và lắng nghe với tất cả chú tâm, trộm nghĩ minh có thể trình bày cảm nghĩ của một người cư sĩ có chút ít am hiểu về AI, nhất là khi cư sĩ Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến, có phát biểu về việc download các bản phiên dịch và các giọng đọc tự động đã có thể được điều chỉnh một cách túc hồ thích hợp , trong bối cảnh tiến bộ kỹ thuật hiện nay , con kính xin được bày tỏ vài cảm nghĩ về PHIÊN DỊCH ĐẠI TẠNG KINH TRONG THỜI ĐẠI AI .
Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni, và kính thưa quý Cư sĩ Phật tử, học giả và thiện hữu tri thức .
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, việc phiên dịch Đại Tạng Kinh luôn được xem là một trong những công trình trí tuệ và đạo đức cao nhất.
Nó không chỉ là chuyển dịch ngôn ngữ, mà là sự vận chuyển tinh thần của một nền văn minh qua biên giới thời gian, văn hóa và tâm thức.
Khi trí tuệ nhân tạo ngày nay có thể dịch hàng trăm ngôn ngữ trong tích tắc, câu hỏi đặt ra không phải là “AI có làm được không”, mà là “chúng ta đang hiểu dịch kinh là gì”.
Sau hai kỳ Đại Hội (2021 và 2024), và cũng như Đại Hội kỳ 3 này, Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN đã trình bày tiến độ khâu Phiên dịch và Ấn hành Thanh Văn Tạng của Ủy Ban Phiên Dịch Trung Ương, và thành quả đã có được và sẽ có trong năm 2026 như dự định.
Là một người học Đạo trong tinh thần thực tế và có tư duy phản biện tích cực (Viết học thuật mà không phản biện giống như người trèo núi chỉ nhìn một sườn. Viết có phản biện là người đi vòng núi một vòng rồi mới chọn đường lên.)
nên người viết xin trình bày những khó khăn và trở ngại có thể gặp phải trong giai đoạn công nghệ AI và cũng nỗi trăn trở sâu nhất của người học Đạo chân chính và của mọi công trình dịch kinh theo đường lối của Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN ) trong thời đại hôm nay.
Kính xin thưa , phản biện đối với quan điểm đề cao chiều kích hành trì trong việc phiên dịch kinh điển sẽ không làm suy yếu lập luận chính của nghiên cứu, mà giúp làm rõ phạm vi áp dụng và giới hạn của nó.
Trong thời đại AI, thách thức không nằm ở việc lựa chọn giữa con người và công nghệ, mà ở việc xác định đúng vị trí của mỗi bên.
Khi được đặt trong mối quan hệ bổ trợ thay vì thay thế, trí tuệ nhân tạo có thể trở thành một trợ lực quan trọng, trong khi con người vẫn giữ vai trò chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng cho ý nghĩa, hướng đi và tác động của bản dịch kinh điển đối với đời sống tinh thần của xã hội.
Như vậy trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ, việc đặt lại vai trò của con người trong hoạt động phiên dịch Đại tạng Kinh là một yêu cầu chính đáng về mặt học thuật.
Quan điểm của riêng người viết chỉ là muốn nhấn mạnh đến chiều sâu trải nghiệm và trách nhiệm đạo đức của người dịch, do đó, cần được xem xét song song với những lập luận cho rằng AI có thể dần thay thế phần lớn công việc dịch thuật truyền thống.
Trước hết, cần thừa nhận rằng AI đã và đang đạt được những thành tựu đáng kể trong việc dịch văn bản cổ điển. Với khả năng xử lý khối lượng lớn dữ liệu, đối chiếu dị bản, nhận diện cấu trúc cú pháp phức tạp và giảm thiểu sai sót kỹ thuật, AI có thể tạo ra các bản dịch có độ chính xác ngữ nghĩa cao trong thời gian rất ngắn. Đối với nghiên cứu kinh điển, điều này mở ra khả năng tiếp cận rộng rãi hơn, đặc biệt đối với những ngôn ngữ cổ vốn trước đây chỉ giới hạn trong một số ít học giả chuyên ngành.
Từ góc độ này, việc xem AI như một công cụ hỗ trợ quan trọng trong dịch thuật kinh cổ là hoàn toàn hợp lý.
Tuy nhiên, lập luận cho rằng AI có thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người trong việc dịch Đại Tạng Kinh đã thể hiện rõ ràng những giới hạn mang tính bản chất.
Giới hạn này không nằm ở trình độ kỹ thuật, mà ở đặc trưng của chính đối tượng được dịch. Những bài kinh trong Đại Tạng kinh không chỉ là văn bản mang thông tin triết học hay tôn giáo, mà còn là kết tinh của kinh nghiệm tu tập, truyền thống sống và bối cảnh lịch sử – xã hội cụ thể.
Ý nghĩa của kinh điển thường được triển khai theo nhiều tầng, trong đó có những tầng chỉ có thể được nhận ra thông qua trải nghiệm hành trì và sự tiếp xúc lâu dài với truyền thống mà kinh văn thuộc về. AI, với bản chất là một hệ thống xử lý dữ liệu, không sở hữu kinh nghiệm sống hay khả năng thực chứng, do đó không thể tự thân đảm nhiệm chiều kích này.
Tuy nhiên, phải nói rằng việc phiên dịch Đại Tạng kinh chưa bao giờ chỉ là một vấn đề kỹ thuật.
Kinh điển không được sinh ra để “được hiểu trọn bằng trí năng”, mà để được sống, được quán chiếu và được thể nghiệm.
Ngôn ngữ kinh cổ thường là ngôn ngữ nén, giàu biểu tượng, đa tầng nghĩa, và có chủ ý giữ lại một khoảng trống cho người đọc tự chiêm nghiệm.
Chính vì vậy, sự chính xác ngữ nghĩa, nếu bị tách rời khỏi bối cảnh tu tập và truyền thống sống động, có thể trở thành một hình thức “đúng mà sai”: đúng chữ, đúng cấu trúc, nhưng lệch tinh thần.
Một phản biện khác có thể được đặt ra đối với lập luận đề cao vai trò của hành giả trong việc phiên dịch kinh là nguy cơ chủ quan hóa nội dung kinh điển.
Quả thật, việc chú giải dựa trên kinh nghiệm tu tập cá nhân có thể dẫn đến những cách hiểu mang dấu ấn cá nhân hoặc trường phái.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa chủ quan tùy tiện và chủ quan có kỷ luật. Trong truyền thống dịch kinh nghiêm túc, chú giải của hành giả không tồn tại độc lập, mà luôn được đặt trong mối quan hệ đối chiếu với văn bản gốc, truyền thống chú giải trước đó và cộng đồng thực hành.
Khi được đặt trong khuôn khổ này, kinh nghiệm hành trì không làm suy yếu tính học thuật, mà bổ sung một chiều kích mà phân tích thuần túy ngữ văn không thể cung cấp.
Cũng cần lưu ý rằng việc nhấn mạnh vai trò của hành giả ( bản phiên dịch có chú giải) không nhằm phủ nhận giá trị của các bản dịch học giả hay công cụ AI.
Ngược lại, một cách tiếp cận toàn diện đối với việc dịch kinh cổ đòi hỏi sự kết hợp của cả ba yếu tố: năng lực kỹ thuật của AI, chiều sâu tri thức của học giả và kinh nghiệm sống động của hành giả.
Mỗi yếu tố đảm nhiệm một chức năng riêng, và chỉ khi chúng được phối hợp một cách có ý thức, bản dịch mới có thể vừa chính xác về mặt học thuật, vừa trung thành với tinh thần của kinh điển.
Từ đó, giới hạn của nghiên cứu này cũng cần được xác định rõ. Bài viết không nhằm xây dựng một mô hình dịch thuật kinh cổ mang tính phổ quát hay áp dụng cho mọi truyền thống tôn giáo. Những nhận xét được trình bày chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và quan sát đối với các truyền thống kinh điển có chiều sâu thực hành rõ nét, nơi mối liên hệ giữa văn bản và đời sống tu tập giữ vai trò trung tâm. Trong những bối cảnh khác, đặc biệt là các văn bản mang tính triết học thuần lý, vai trò của AI và học giả có thể chiếm ưu thế hơn.
Trở về các phiên bản của Đại Tạng Kinh trên tiêu chuẩn Học Và Hành, ngay vào lúc này chúng ta có thể nhìn thấy ở vào thời đại công nghệ AI hiện nay có 3 loại dịch kinh thuộc ba tầng khác nhau của việc học pháp.
Đó là : Bản dịch của AI, bản dịch của một học giả ( không chú giải ) và Bản dịch hành giả (có chú giải )
Và nếu chúng ta có được nhân duyên đọc lời thưa của HT Thích Như Điển trong lần tái bản các tác phẩm (1- Đại đường Tây Vực ký ( Pháp Sư Huyền Trang ) -
2- PHÁP HOA VĂN CÚ (HT Thích Như Điển & Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến(Việt dịch và chú giải) chúng ta sẽ thấy rằng các văn bản Hán cổ vốn có rất nhiều yếu tố đặc thù mà người chưa thực sự đi sâu vào không thể nào hiểu hết và đọc giả sẽ thấy đây không chỉ đơn thuần là một bản Việt dịch mà tự nó đã là một công trình nghiên cứu.
Cũng theo HT Phương Trượng chùa Viên Giác, công đức vô lượng của Đạo hữu Nguyễn Minh Tiến đã bỏ ra rất nhiều thời gian, trí tuệ và tâm huyết để tham khảo, tra cứu, đối chiếu, so sánh và phán đoán để đi đến kết luận cho từng vấn đề trong văn bản. Quả là một điều rất được tán dương.
Nếu được so sánh một cách minh triết –chúng ta có thể tóm tắt
Ba loại dịch này chẳng hề đối nghịch, nhưng có thể nói chú giải” là nơi sinh mệnh của bản dịch.
Chúng ta hãy minh họa cụ thể bằng một câu kinh” Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm “ một câu rất ngắn trong Kinh Kim Cang:
-) Nếu là Bản dịch AI (chuẩn ngữ pháp ) “ Hãy sinh khởi tâm mà không trụ vào bất cứ điều gì.” Thật ra cách dịch này dùng đúng chữ tuy nhiên người đọc không biết làm sao để sống như vậy. Do đó dễ hiểu sai thành “đừng bám víu gì cả” → rơi vào đoạn diệt
-) Nếu  Bản dịch học giả (chuẩn nghĩa – sáng) “Nên khởi tâm hành động nhưng không an trụ vào đối tượng, chủ thể hay kết quả.”
Có thể cho thấy bản dịch rất chính xác về triết học vì phân biệt được chủ thể – đối tượng – kết quả, nhưng thật tình mà nói đối với với người tu: vẫn là một câu khó hành, dễ hiểu bằng trí mà chưa thể chạm được tâm.
-) Nhưng nếu là Bản dịch hành giả (có chú giải) – “Hãy để tâm khởi lên trong từng hành động,nhưng đừng để nó dính mắc vào điều đang làm,người đang làm, hay kết quả của việc làm.”thì quả thật đây là điểm khác biệt cốt lõi.
Điều này rất rõ ràng điều Chú giải muốn mang đến vì Vô sở trụ” không phải là không làm, mà là làm mà không đóng cứng bản ngã. Có nghĩa là
-Khi bố thí: biết mình đang cho, nhưng không tạo hình ảnh ‘ta là người cho’
-Khi tu: biết mình đang tu, nhưng không chấp ‘ta đang tiến bộ’
Từ đó người đọc biết áp dụng ngay vào đời sống.
Ngoài ra vấn đề nhất thời chính lại là một thách thức mang tính hệ thống.
Và phải chăng hoạt động dịch thuật Đại tạng kinh hiện nay đang đối diện với những thách thức tài chính mang tính cơ cấu, xuất phát từ cả đặc thù nội tại của công trình lẫn bối cảnh kinh tế – xã hội đương đại.
Việc duy trì và phát triển các công trình này đòi hỏi một cách nhìn lại về mô hình hỗ trợ, trong đó sự kiên nhẫn, chia sẻ trách nhiệm cộng đồng và ý thức bảo tồn di sản tinh thần cần được đặt lên hàng đầu, nếu nói “không khó khăn” thì là không đúng sự thật vì phương pháp Phiên Dịch Đại Tạng kinh của Ủy Ban Phiên Dịch Trung Ương/ Hội đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN
-cần thời gian dài (không thể làm nhanh)
-cần nhân lực có chiều sâu (người vừa hiểu văn bản, vừa có hành trì)
-cần in ấn nghiêm cẩn, phát hành phù hợp với mức cung và cầu
-thường không sinh lợi, thậm chí không hoàn vốn
Trong khi đó, bối cảnh xã hội hiện nay:
-ưu tiên tốc độ – hiệu quả – lợi ích thấy ngay
-mạnh thường quân tài trợ thường hướng đến dự án có danh tiếng, truyền thông, hoặc lợi ích rõ rệt nhất là giới giàu có và tập đoàn thường đầu tư vào công nghệ, giáo dục thực dụng, thương hiệu cá nhân, hơn là công trình phiên dịch, có thể nói không phải vì họ “không có tâm”, mà thường vì:
-Dịch kinh không tạo giá trị đo đếm được
-Dịch kinh không tạo hào quang xã hội, dễ gắn tên tuổi
-Khoảng cách căn cơ 
   *Nhiều người thành đạt chưa có nhu cầu nội tâm đủ sâu để thấy giá trị của kinh điển
  * Họ có thể làm từ thiện xã hội, nhưng chưa bước sang từ thiện tâm linh.Đây là khác biệt về nhu cầu tâm thức, không chỉ về tiền bạc.
Có thể thấy, khác với các dự án dịch thuật mang tính thương mại hoặc học thuật thuần túy, sự phiên dịch kinh theo chủ trương của Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN hiện nay không hướng đến lợi nhuận, cũng không nhắm đến số lượng phát hành lớn, mà ưu tiên độ chín của nội dung, tính cẩn trọng trong chú giải và sự trung thành với tinh thần thực hành của kinh điển.
Chính định hướng này khiến mô hình tài chính của các công trình dịch kinh loại này trở nên đặc biệt mong manh.
Như đã nói ở trên về phương diện chi phí, dịch thuật theo lối hành giả đòi hỏi thời gian dài và nguồn lực chuyên môn sâu. Người dịch thường phải dành nhiều năm cho việc nghiên cứu văn bản gốc, đối chiếu dị bản, tham khảo truyền thống chú giải và kiểm chứng lại cách hiểu thông qua thực hành.
Bên cạnh đó là các chi phí liên quan đến biên tập học thuật, hiệu đính, in ấn và lưu trữ, vốn không thể giản lược nếu muốn bảo đảm chất lượng và tính bền vững của văn bản.
Tuy nhiên, do phạm vi độc giả tương đối hẹp và mức độ quan tâm của thị trường thấp, các bản dịch này hầu như không có khả năng tự bù đắp chi phí thông qua doanh thu phát hành.
Hơn thế nữa trong bối cảnh xã hội hiện nay, nguồn tài trợ từ các nhà hảo tâm lớn hoặc tổ chức tài chính có xu hướng tập trung vào những lĩnh vực mang lại hiệu quả xã hội dễ đo lường, có khả năng quảng bá hoặc gắn với các chỉ số phát triển cụ thể. Và dĩ nhiên hoạt động phiên dịch Đại tạng kinh thường không đáp ứng được các tiêu chí này, do giá trị của nó chủ yếu thể hiện trong chiều sâu tinh thần và tác động lâu dài, khó lượng hóa trong ngắn hạn.
Vì vậy, việc trông chờ vào sự bảo trợ ổn định từ giới doanh nhân hoặc các quỹ lớn là một kỳ vọng khó thực hiện trong thực tế.
Trên thực tế, phần lớn các công trình dịch kinh theo lối hành giả hiện nay được duy trì nhờ vào sự đóng góp nhỏ lẻ của cộng đồng tín đồ và những người quan tâm đến đời sống tâm linh. Mặc dù hình thức đóng góp này thể hiện sự đồng cảm và chia sẻ chân thành, nhưng lại thiếu tính ổn định và khó dự đoán, khiến các nhóm dịch thuật gặp nhiều khó khăn trong việc lập kế hoạch dài hạn. Việc phụ thuộc vào nguồn tịnh tài không đều đặn cũng làm gia tăng áp lực cá nhân đối với người dịch, vốn đã phải gánh vác khối lượng công việc lớn trong điều kiện hạn chế về vật chất.
Thật ra có một điều nghịch lý rằng sự đóng góp nhỏ bé của thường dân – đây là chỗ tưởng như yếu nhất nhưng lại là điểm mạnh nhất của công trình hành giả.
Thực tế: Dù mỗi người chỉ đóng góp rất ít, không đều đặn, không ổn định.
Nhưng về bản chất: Đây là tịnh tài phát sinh từ sự đồng cảm,không vì quảng bá, không vì lợi ích cá nhân
Cho nên trong lịch sử Phật giáo, kinh điển không được nuôi bởi vua chúa trước tiên, mà bởi những người dân bình thường tin rằng ánh sáng cần được giữ lại. Vậy nên về lâu, về dài đây là nguồn lực bền nhất, dù rất chậm.
Một thách thức khác là sự cạnh tranh gián tiếp từ các bản dịch nhanh, giá rẻ hoặc miễn phí do công nghệ hỗ trợ. Khi người đọc có thể dễ dàng tiếp cận các bản dịch tự động hoặc các ấn phẩm phổ thông, giá trị của những bản dịch chậm, kỹ lưỡng và có chú giải sâu dễ bị đánh giá thấp.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng gây quỹ, mà còn làm suy giảm động lực xã hội trong việc đầu tư cho những công trình dịch thuật mang tính dài hơi.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng khó khăn tài chính của hoạt động dịch kinh theo lối hành giả không phải là vấn đề nhất thời, mà là một thách thức mang tính hệ thống. Việc duy trì và phát triển các công trình này đòi hỏi một cách nhìn lại về mô hình hỗ trợ, trong đó sự kiên nhẫn, chia sẻ trách nhiệm cộng đồng và ý thức bảo tồn di sản tinh thần cần được đặt lên hàng đầu. Nếu không có những hình thức hỗ trợ phù hợp, nguy cơ gián đoạn hoặc mai một của các công trình dịch kinh có chiều sâu thực hành là một thực tế cần được nghiêm túc cân nhắc.
Nói tóm lại, Công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh với chủ trương của Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN, không được nuôi bởi sự giàu có của xã hội,mà bởi nỗi đói tinh thần chưa được gọi tên. Phương tiện vật chất tuy có thể rất ít,nhưng nếu còn người tin rằng”một câu kinh đúng có thể cứu một đời người”thì công trình ấy vẫn chưa tuyệt đường, và là công trình vĩ đại nhất. Đây sẽ không còn là dịch thuật, mà là dẫn đạo trong im lặng. Một bản dịch như vậy: -không bao giờ “lỗi thời”-có thể đọc lại suốt đời-mỗi lần đọc, nghĩa lại sâu thêm theo tâm người đọc.
Lời kết :
Nếu xem Đại Tạng kinh là “di sản trí tuệ”, thì việc phiên dịch kinh là một hành vi đạo đức, thì một sai lệch nhỏ trong dịch thuật có thể dẫn đến lệch lạc trong tu tập, thậm chí trong cả một truyền thống.
Vì vậy, giá trị của việc phiên dịch kinh không giảm đi trong thời đại AI; ngược lại, nó càng đòi hỏi sự khiêm cung, tỉnh thức và tự biết giới hạn.
Khi máy móc làm được rất nhiều, con người càng phải biết mình đang làm gì – và vì sao mình làm điều đó.
Sau cùng, có thể nói rằng: AI cho chúng ta phương tiện, học giả cho chúng ta bản đồ, nhưng hành giả cho chúng ta con đường. Một bản dịch kinh cổ vĩ đại không phải là bản dịch “hoàn hảo”, mà là bản dịch giúp con người bớt mê lầm hơn, sống sâu hơn, và thấy rõ chính mình hơn. Khi còn giữ được mục tiêu ấy, việc phiên dịch kinh cổ – dù trong bất kỳ thời đại nào – vẫn xứng đáng được gọi là một công trình lớn của nhân loại, vì người dịckhông chỉ được “dịch”, mà còn có nhiệm vụ “trao truyền”. Do vậy bản dịch kinh vĩ đại không nằm ở: bao nhiêu trang bao nhiêu từ ngữ mà ở chỗ: (nó có giữ được linh hồn của pháp-
nó không phản bội tinh thần nguyên sơ-nó mở đường tu tập cho người sau.)
Có thể tạm kết luận rằng người dịch kinh hôm nay: (không cạnh tranh với AI
 đứng cao hơn AI một chiều kích: chiều kích tỉnh thức) và đó cũng là
cốt lõi của sự khác biệt giữa “dịch nhanh” và “dịch đúng”, giữa “chuyển ngữ” và “khai mở trí tuệ”.
Hãy cùng nhau xác quyết rằng việc phiên dịch kinh điển nhất là Đại Tạng Kinh
không phải là sao chép chữ, mà là đặt nhịp tim của một thời đại vào thân xác của một ngôn ngữ khác.
Và có lẽ chúng ta ai cũng chấp nhận rằng việc phiên dịch kinh điển ngày nay không thể “hứa hẹn tác động xã hội tức thì”nhưng lại rất chân thành nói thật “chúng tôi đang giữ lửa cho mai sau”. Dù cho điều này không hấp dẫn số đông, nhưng lại đúng với bản chất của kinh điển và đúng với tinh thần của Ngài Tuệ Sỹ trong dòng sống của Đạo pháp và Dân tộc.
Đó là khi xã hội đủ giàu, người ta ít còn cần kinh. Nhưng khi xã hội bắt đầu khủng hoảng ý nghĩa, kinh điển lại trở nên cần thiết –nhưng lúc ấy nguồn lực đã cạn theo số tuổi và theo vô thường . Vì thế, công trình dịch kinh luôn đi trước nhu cầu xã hội và vì đi trước, nên luôn cô độc phải nói đó không phải thất bại, mà là định mệnh lịch sử của kinh điển.
Hãy là người không nản lòng – nhưng cũng không ảo tưởng, hãy tin tưởng rằng : Phiên dịch Đại tạng kinh là hành trình “tam trùng”: ngữ – nghĩa – tâm
Và công trình dịch kinh chân chính luôn bao hàm ba tầng:
1. Dịch ngữ (Chính xác văn bản gốc-Hiểu ngữ pháp cổ, dị bản, văn cảnh)
→ AI có thể giúp tốt ở tầng này.
2. Dịch nghĩa (Hiểu hệ tư tưởng, triết học, tôn giáo-Biết vì sao chữ ấy được dùng, và không thể thay bằng chữ khác) → Cần học giả, truyền thống, kinh nghiệm nhân sinh.
3. Dịch tâm( Người dịch phải biết im lặng ở đâubiết không dịch quá rõ để tránh làm chết huyền nghĩa, biết  giữ không gian cho người đọc tự chứng) → Đây là nơi AI không bước vào được.
Chúng ta chớ phủ nhận công nghệ, nhưng luôn tâm tâm niệm niệm rằng Kinh điển không chỉ là ngôn từ mà là kinh nghiệm sống, do đó AI – dù tinh vi đến đâu – chỉ thao tác trên ngôn ngữ.
Trong khi đó, kinh điển sinh ra từ: định-tuệ- và trạng thái tâm đã vượt khỏi khái niệm vì vậy câu kinh với người chưa chứng: chỉ là kiến thức,  kiến thức vào đầu nhưng không thấm vào thân–tâm, nhưng với người đã thực chứng: là dấu chỉ của một trạng thái tâm đã được quán chiếu và soi lại kinh nghiệm từ đó sinh ra tuệ giác—>AI chỉ truyền được chữ, không thể truyền trạng thái.
Kính trân trọng
Việc phiên dịch Đại Tạng Kinh vẫn là một công trình vĩ đại.
Thậm chí, càng trong thời đại AI,
việc dịch Đại Tạng kinh
lại càng vĩ đại hơn,
chứ không hề bị “giảm giá trị” .
AI ngày nay có thể:
So sánh hàng triệu văn bản
Nhận ra cấu trúc cú pháp
ngữ pháp, thuật ngữ
Rất chính xác , khó bì
Nhưng Đại Tạng Kinh
lại không được viết để
“hiểu bằng ngôn ngữ”, một khi
mà để:
thực chứng
quán chiếu
chuyển hóa tâm thức!
Một chữ trong kinh:
có lịch sử truyền thừa,
mang ý nghĩa đạo đức !
Có bối cảnh hành trì
có tầng nghĩa …chỉ hiện ra
Khi người dịch
và người đọc
đã sống cùng pháp thật thà ,
Do đó AI chưa có thân phận tu chứng,
nên chỉ có thể hỗ trợ, không thể thay thế.!
Người phiên dịch chân chính
không phải để được khen,
mà để giữ cho
ánh sáng không tắt,
đó là công trình của trí tuệ !
Cùng nhân cách,
hy sinh thầm lặng
càng hiện rõ lên
Nổi bật rằng :
dịch chậm, cẩn thận
dịch bằng đời sống
dịch bằng sự cung khiêm
Nhắc nhở ta :
kinh điển không chỉ là 
ngôn từ mà là kinh nghiệm sống!
Viết bằng tất cả sự đồng hành, đồng cảm sau khi tham dự trực tuyến qua Zoom trong lần ĐẠI HỘI HOẰNG PHÁP LẦN THỨ III – TIẾP NỐI DÒNG CHẢY CHÁNH PHÁP . Rất hoan hỷ khi đại hội đã hoàn thành viên mãn trong tinh thần hòa hợp và nhất trí dưới sự chỉ đạo của HT Chủ tịch Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN 


Sydney 19/12/2025
Phật tử Huệ Hương



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/2026(Xem: 1306)
Bính Ngọ đang về trải khắp nơi Già lam Quảng Đức pháp trao đời Duyên trần mãi ước mong đều lợi Trí đức hoài vun nguyện thảy ngời. Nguyện Tạng trụ trì an kệ khởi Tâm Phương viện chủ sáng tình khơi Xuân sang vạn nẻo nhà nhà mới Bính Ngọ đang về trải khắp nơi…
06/02/2026(Xem: 759)
Ngẫm cuộc nhân sinh khẽ mỉm cười Thi đàn xướng hoạ bốn mùa chơi Phiên trà nghĩa kết hương còn đọng Tiệc bút duyên trao mộng chửa rời Sóng gợn dòng thu vầng nguyệt toả Đêm chìm giấc hạ mảnh tình khơi Bao phen giữa chợ đời dong ruổi Vẫn giữ thân danh vẹn kiếp người !
06/02/2026(Xem: 1134)
Chớ mong chờ sẽ có kỳ tích xuất hiện ! Mà chỉ cần mỗi ngày thêm một chút yêu thương So với hôm qua, đã có tiến bộ hơn, về dũng cảm, khiêm nhường Luôn giữ được ngọn đèn tâm sáng rực giữa mê cung thế giới
06/02/2026(Xem: 1265)
Tuấn mã ung dung bước thảnh thơi, Yên cương là giới, lộ là đời Chân không lùi bước dù sương gió Trí đảm trung can giữa đất trời. Gánh nặng trần lao không oán thán Vượt qua lục đạo thoát luân hồi Ngày đêm tinh tấn không dừng nghỉ Mã đáo thành công viên mãn rồi.
06/02/2026(Xem: 1061)
Hai không hai sáu đến rồi Hân hoan chào đón trên môi mỉm cười Dù trời mưa gió vẫn tươi Tâm yên cành tịnh tình người dễ thương Bao la ân nghĩa muôn phương Thiền môn luôn đẹp đồng hương thạnh hành Mây trôi chầm chậm hay nhanh Tuỳ duyên nhìn ngắm không sanh mong cầu
06/02/2026(Xem: 958)
Nghêu ngao khúc hát mục đồng Thong dong bãi lục đất dồng dắt trâu Hiền ngưu vẫn đó chứ đâu đôi sừng lẫm liệt đại đầu vờn mây Cỏ non hoa dại rợp dầy Vi vu sáo thổi tháng ngày dọc ngang Đồi cao gió hú kinh vàng Đường trần khúc khuỷu
04/02/2026(Xem: 1112)
Là một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm, Phật sự đa đoan, lòng tôi vẫn cảm thấy tràn đầy nguồn an ủi vô biên trong những lúc mệt nhọc. Những ngày gần đây, các bài thơ trong tập thơ Hoa Thiền, mang tâm ý Phật Pháp, được Cô Đặng Lan và các thi sĩ ngâm vịnh, được Phật tử Tâm Nghiêm đọc vào đĩa, được Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ nhạc… với những niềm khích lệ đó, khiến tôi cố gắng sáng tác thêm những vần thơ mới. Và hôm nay, tập thơ Hoa Thiền tái bản, mang vóc dáng trang trọng, gói trọn một nội dung hồn thơ và ý nhạc, khiến cho lời thơ nhẹ nhàng bay vút khắp nơi và tuôn chảy vào tận cõi lòng người. Tôi xin chân thành cảm nhận tất cả và trân trọng khắc ghi vào lòng một kỷ niệm đẹp trong suốt hành trình dấn thân vì Đạo. 🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
04/02/2026(Xem: 852)
Phật Sự Mục đích Thế Tôn đến cõi đời, Mở bày tri kiến Phật mà thôi. Trong nhà của báu quên tìm thấy, Búi tóc minh châu sẵn đó rồi. Đương thể hiện tiền đang chính nó, Nhắc ra cái ấy có nơi người. Thấy nghe hay biết lìa hay biết, Trên bước chân như mỉm miệng cười. Thích Nữ Phước Hoàn (Như Thanh)
04/02/2026(Xem: 1058)
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
04/02/2026(Xem: 1276)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.