Hận Sông Gianh (thơ)

08/10/202506:43(Xem: 4804)
Hận Sông Gianh (thơ)

song gianh

Hận Sông Gianh




Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ dân nam
Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang
Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống

Và còn đấy hận phân chia nòi giống
Và còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận

Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho giòng sông
Mộng bá vương Trịnh Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết

Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi sông Hồng tàn phá giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch.


Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy



song gianh

Lịch sử


Sông Gianh và Đèo Ngang là biểu trưng địa lý của tỉnh Quảng Bình. Phần thượng lưu sông Gianh có tên là Rào Nậy với những đặc điểm địa vật lý và địa chất dị thường của Rào Nậy - Hoành Sơn, một nhánh khác là Rào Son có động Phong Nha (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới). Cửa sông có cảng biển gọi là Cảng Gianh.

Trong lịch sử, sông Gianh được gọi theo tên chữ là Linh Giang (chữ Hán: 𤅷江). Nếu đèo Ngang là ranh giới thời Đại Cồ Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập từ 939 đến năm 1069, thì sông Gianh là ranh giới thời Trịnh–Nguyễn phân tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1600-1774) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Chiến trường chính là miền Bố Chính (Quảng Bình). Đèo Ngang gắn với huyền thoại "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" của Trạng Trình. Năm 1558, Nguyễn Hoàng, một danh tướng thời nhà Lê trung hưng, con thứ của Nguyễn Kim, sợ bị Trịnh Kiểm mưu hại, đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu nhà Nguyễn sau này.

Trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang, nhưng thực sự ranh giới chia cắt Bắc - Nam của Việt Nam là sông Gianh từ 1627 đến 1774. Bờ bắc sông có chợ Ba Đồn là nơi quân Trịnh mua đồ ăn uống và trao đổi hàng hóa.

Vào tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi, người bị Pháp phế truất vì thiếu cộng tác và đã phát động kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, quân Cần vương lánh nạn ở thượng nguồn sông, một vùng hoang dã ò núi và rừng rậm. Chính ở đó, tại ngôi làng nhỏ Ò Vé, ông đã bị bắt vào ngày 2 tháng 11 năm 1888 và bị đày đến Algiers, nơi ông mất năm 1943.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/04/2014(Xem: 22576)
Ngày rằm nắng đẹp tháng tư Là ngày giáng thế Phụ từ Thích Ca Hạnh phúc thay chốn Ta bà Cha Hiền giáng thế lập ra Đạo vàng Từ bi thương xót nhân gian Giáng trần cứu khổ muôn ngàn chúng sanh Chỉ cho nguồn khổ ngọn ngành Tam Đồ nhà lửa tử, sanh luân hồi.
29/04/2014(Xem: 27593)
Người đời tham đắm lợi danh Con trai tỷ phú chẳng cần thứ chi, Đi theo tiếng gọi Từ Bi Ẩn cư rừng núi ngày thì xin ăn, Khất sĩ đời sống khó khăn
28/04/2014(Xem: 19175)
Tôi thường nghĩ đến những dòng sông Chỉ nhận rồi cho rất thật lòng Dẫn lối suối khe về với biển Đưa đường kênh rạch chảy qua đồng
27/04/2014(Xem: 20343)
Tháng tư về đó – Em ơi ! Vàng trong ánh ngọc, Sạch ngời tuyết mây. Bốn phương Trời tạnh mưa bay Hoa ưu đàm nở, Phương nầy nguyệt viên.
27/04/2014(Xem: 37837)
BÀI KỆ A-TU-LA (thơ) Vi Tâm Nhân đọc cuốn « Vòng Luân Hồi » của TN Giới Hương (http://quangduc.com/a53177/vong-kho), trong đó có bài kệ Hộ Pháp ủng hộ Phật pháp mà các chùa thường tụng cuối thời kinh, Vi Tâm xin cảm tác bài kệ thành thơ lục bát. A-tu-la quỷ (thuộc quỷ ở trời), từ trứng sanh ra. Sống ở hư không. Có vị phát tâm bảo hộ chánh pháp.
26/04/2014(Xem: 21178)
KHÓC THƯƠNG NGƯỜI MẸ TRẺ VIỆT NAM (Chị: Phan Ngọc Thanh sinh năm 1985 trong vụ chìm phà Sowel) Một mình đi lấy chồng xa Quê hương để lại Cha già Mẹ yêu Nhớ thương cách trở bao chiều Theo chồng con nhỏ tìm nhiều kế phương.
26/04/2014(Xem: 20653)
Cha lành, Phật Tổ Thích Ca Giáng trần cứu khổ, Ta Bà trầm kha Lời Cha ban bảo thiết tha: “Nước mưa một vị, Pháp Ta nhiệm mầu” “Ai ai tín nguyện tu mau”
26/04/2014(Xem: 17005)
Một thương, chú điệu có duyên Hai thương, miệng núm đồng tiền dễ thương Ba thương, lúc chú đốt hương Bốn thương, lạy mọp bốn phương dịu dàng Năm thương, chuông mõ nhịp nhàng Sáu thương, ngủ gục trên bàn tụng kinh
26/04/2014(Xem: 16943)
Hạt bồ đề từ tiền kiếp đã gieo Cách lạy nhịp nhàng, năm vóc xuống veo Thân cụp lại, đầu chạm trán nền đất Phải chăng kiếp trước chú đã Tỳ kheo ?
24/04/2014(Xem: 31306)
(Nguyện thứ nhất) Khi Ta thành đạo Bồ đề, Băm hai tướng tốt đề huề tụ thân Hào quang vô lượng sáng ngần Chúng sanh ai cũng được phần như Ta