Hận Sông Gianh (thơ)

08/10/202506:43(Xem: 4386)
Hận Sông Gianh (thơ)

song gianh

Hận Sông Gianh




Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ dân nam
Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang
Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống

Và còn đấy hận phân chia nòi giống
Và còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận

Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho giòng sông
Mộng bá vương Trịnh Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết

Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi sông Hồng tàn phá giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch.


Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy



song gianh

Lịch sử


Sông Gianh và Đèo Ngang là biểu trưng địa lý của tỉnh Quảng Bình. Phần thượng lưu sông Gianh có tên là Rào Nậy với những đặc điểm địa vật lý và địa chất dị thường của Rào Nậy - Hoành Sơn, một nhánh khác là Rào Son có động Phong Nha (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới). Cửa sông có cảng biển gọi là Cảng Gianh.

Trong lịch sử, sông Gianh được gọi theo tên chữ là Linh Giang (chữ Hán: 𤅷江). Nếu đèo Ngang là ranh giới thời Đại Cồ Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập từ 939 đến năm 1069, thì sông Gianh là ranh giới thời Trịnh–Nguyễn phân tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1600-1774) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Chiến trường chính là miền Bố Chính (Quảng Bình). Đèo Ngang gắn với huyền thoại "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" của Trạng Trình. Năm 1558, Nguyễn Hoàng, một danh tướng thời nhà Lê trung hưng, con thứ của Nguyễn Kim, sợ bị Trịnh Kiểm mưu hại, đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu nhà Nguyễn sau này.

Trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang, nhưng thực sự ranh giới chia cắt Bắc - Nam của Việt Nam là sông Gianh từ 1627 đến 1774. Bờ bắc sông có chợ Ba Đồn là nơi quân Trịnh mua đồ ăn uống và trao đổi hàng hóa.

Vào tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi, người bị Pháp phế truất vì thiếu cộng tác và đã phát động kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, quân Cần vương lánh nạn ở thượng nguồn sông, một vùng hoang dã ò núi và rừng rậm. Chính ở đó, tại ngôi làng nhỏ Ò Vé, ông đã bị bắt vào ngày 2 tháng 11 năm 1888 và bị đày đến Algiers, nơi ông mất năm 1943.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/07/2016(Xem: 24923)
Mùa Hiếu Vu Lan lại về - Hân hoan chào đón tràn trề yêu thương- Ân Cha Mẹ quả vô lường- Công lao trời biển tỏ tường lòng con
26/07/2016(Xem: 20867)
Vu Lan nhớ mẹ bao giờ - Dù bao cách biệt hai bờ đại dương- Mẹ là bài hát quê hương- Là đôi vai nhỏ chín thương sớm chiều-
25/07/2016(Xem: 12308)
Thân nay đã xuất đi rồi Tâm thì ở lại với lời Phật ngôn Cuộc đời ai dại ai khôn Người thì nói giỏi kẻ thì bảo ngu Thôi ta im lặng thầm tu Tự mình chuyển hoá ngục tù vô minh
25/07/2016(Xem: 15028)
Quê hương Ngài, miền bao la nước nỗi Đất phù sa mầu mỡ lớp lớp về Những loài chim, quen, lạ nhận làm quê Lục bình đứng dưới vầng mây viễn xứ
23/07/2016(Xem: 13597)
Nửa vầng trăng khuya Quán Âm tọa - Đôi chân tận nước, biển mênh mông - Chư Thiên, Long Hải, người tôn kính - Gặp nạn niệm danh, Mẹ đến liền.
23/07/2016(Xem: 16014)
Thầy là vì sao sáng Là tiếng nói từ tâm Đưa con vào cửa đạo Xa lánh mọi lỗi lầm
21/07/2016(Xem: 17292)
Bước vào nẻo đạo kiếm an nhiên Học pháp, tu hành chuyển nghiệp duyên Ngũ giới ghi lòng siêng tịnh khẩu Tam quy tạc dạ nhớ tham thiền Chân kinh tụng rõ thêm thanh nhã Thập chú trì to xóa khổ phiền Hạt giống bồ đề ươm tưới bón Đạo Đời hai lối hướng chân nguyên.
19/07/2016(Xem: 15551)
Mấy mươi năm ở chốn Ta Bà Sự nghiệp tu hành độ gần xa Nương theo phương tiện mà dẫn chúng Tịnh hoá thân tâm niệm Di Đà ( Pháp môn Tịnh Độ )
18/07/2016(Xem: 18920)
Tôi nhớ mãi một buổi chiều, Mẹ ngồi bên thềm sân, Cúi xuống, thoang thoáng một nét buồn. Tôi hỏi: "Sao mẹ buồn?"
18/07/2016(Xem: 14128)
Trách chi, đừng trách vô thường - Hòa cũng xào xạc lá vườn vàng khô- Chợt nghe trầm bổng nhịp thơ- Con tim run rẩy đợi chờ tiếng yêu