Hồi Hướng Công Đức

03/10/202519:20(Xem: 3473)
Hồi Hướng Công Đức
ht tinh su-1
Hồi Hướng Công Đức


Phước lành con đã tạo ra
Các đời quá khứ hay là đời nay
Nghiệp chưa cho quả phước nào
Nguyện thành pháp độ để vào thiện căn .
Sau này dù tạo mấy lần
Từ đây cho đến vô sanh Niết Bàn
Hễ làm chuyện tốt sẵn sàng
Mỗi điều lợi ích thành đoàn nhân duyên
Giúp cho phiền não sớm yên
Trợ mau giải thoát kế liền kiếp sau
Nếu trễ chẳng gặp Phật nào
Nhằm kỳ Độc Giác làm sao cũng thành .
(HT Tịnh Sự dịch từ Pali)

Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Việt Nam Phật Giáo Siêu Lý Tự Khai Sơn A Tỳ Đàm Việt Nam dịch giả húy Thượng Tịnh hạ Sự Trưởng Lão Hòa Thượng Tôn Sư



ht tinh su-1

Tỳ Khưu Tịnh Sự, thế danh là Võ Văn Đang, sinh năm Quí Sửu (1913), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, tại một vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần Thị Thông.

Năm 7 tuổi Ngài đã học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được người đương thời gọi là “Thần đồng Lê Quí Đôn”. Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài xuất gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Đéc). Thấy Ngài quá thông minh nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ Lực.

Năm 20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê, Sa Đéc. Đến năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa Phước Định, Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa Viên Giác, Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo Nam Tông đã chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia, thọ giới theo Phật giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko) ở Trà Pét.

Từ Campuchia Ngài có thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới Tỳ kheo tại chùa Pakknam Bangkok. Ngài được thầy tế độ ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì thấy Ngài chuyên tâm hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Đàm (Abhidhamma) trong bảy năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ trì chùa Viên Giác – Vĩnh Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp học A Tỳ Đàm Pàli (Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.

Muốn cho môn học Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm 59 tuổi Ngài về trụ trì chùa Siêu Lý – Sài Gòn. Mở trường chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các bộ sách Giáo Khoa Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh Tạng Abhidhamma.

Ngài đã đào tạo nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế hệ đệ tử này đã kế thừa sự nghiệp của Ngài truyền bá môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi Diệu Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Đại Đức Giác Chánh, cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương đã có công đức duy trì và phát triển môn học Abhidhamma.

Về phương diện đào tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế độ truyền giới xuất gia cho hàng trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của Ngài một cách tốt đẹp.
Không những chỉ đào tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều cơ sở tự viện: chùa Viên Giác (Vĩnh Long), chùa Long Linh, chùa Giác Phước, chùa Pháp Độ, chùa Trúc Lâm, chùa Siêu Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.

Điểm nổi bật nhất trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng luận Pàli tức Tạng Abhidhamma (A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp) gồm:
  1. Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani)
  2. Bộ Phân Tích (Vibhanga)
  3. Bộ Chất Ngữ (Dhàtu kàthà)
  4. Bộ Nhân Chế Định (Puggala Pannatti)
  5. Bộ Ngữ Tông (Kàthà Vatthu)
  6. Bộ Song Đối (Yamaka)
  7. Bộ Pháp Trí (Patthana)

Đó là phần chánh tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma được giảng dạy tại các trường Phật Học Thái Lan:
  1. Vi Diệu Pháp Sơ Cấp
  2. Vi Diệu Pháp Trung Cấp
  3. Vi Diệu Pháp Cao Cấp
  4. Thanh Tịnh Đạo
  5. Diệu Pháp Lý Hợp

Sự nghiệp đạo pháp của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài đã dành hết đời mình để phiên dịch trọn Tạng Vi Diệu Pháp (Luận Tạng Pàli). Qua công hạnh này, Ngài là một ngôi sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.

Đêm mùng 6 tháng 5 năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di huấn và gởi lời sám hối đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm và viên tịch lúc 6 giờ 15′ sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức 05-06-1984), hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.

Trước khi viên tịch Ngài đã giảng về sự khổ, rồi mỉm cười tắt hơi thở cuối cùng. Ngài ra đi nhưng sự nghiệp đạo pháp của Ngài vẫn còn ở lại với hậu tấn ngưỡng cầu giải thoát khổ đau, để hằng an vui tự tại nơi Niết Bàn tịch tịnh.

(budsas.org)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/11/2022(Xem: 7523)
Hương trầm Khói toả Chuông ngân Thời kinh trưa Ngọ Nhịp vần trống thiêng Trang nghiêm Hoa rợp cửa thiền Kính cung tưởng niệm bậc hiền trí Tăng
12/11/2022(Xem: 7506)
Dù vẫn biết vạn pháp …NHƯ HUYỄN ! Dứt làm sao tham luyến si sân Đã quen nhận giả làm chân Cuối cùng THẤY , BIẾT …lỗi lầm chất chứa !
12/11/2022(Xem: 6927)
Mẹ ngồi tụng Dược Sư Kinh Cầu cho thế giới hòa bình an vui Nhìn Mẹ con thấy hoa cười Nhìn Mẹ con thấy yêu người thế gian Ngày xưa Mẹ quá gian nan Nuôi con Mẹ dạy muôn vàn lời kinh Sống đời trong kiếp nhân sinh Nương câu niệm Phật tâm mình bình an.
03/11/2022(Xem: 11857)
Cảm ơn nắng ấm giữa Đông Cảm ơn hoa nở giữa lòng tuyết rơi Cảm ơn mây trắng giữa trời Cho ta có bạn giữa đời lang thang. Cảm ơn Thầy Mẹ cưu mang Dầu trong nghịch cảnh chẳng than một lời Cảm ơn Thầy Tổ một đời Cho ta “huệ mạng” thấm lời Thầy khuyên
31/10/2022(Xem: 5702)
Mẹ ơi, Mùa thu lá vàng rơi Là ngày con mất Mẹ Hôm nay ngày giỗ Mẹ Lòng con buồn đơn côi Bao năm rồi hả Mẹ? Từ độ con xa nhà Mắt Mẹ nhìn thật xa Mong con về từng bữa
30/10/2022(Xem: 12423)
Đọc hết 237 trang thơ trong tập thơ Vạt Nắng Phù Hư của Thầy Thiện Trí, tôi thấy đâu đó có những bài thơ phảng phát của Thiền Chánh Niệm, Thiền Vipassana, Thiền của Ngài Hoàng Bá, Thiền của Thiền Sư Thanh Từ và kể cả Thiền Sư Nhất Hạnh nữa; nên Thầy mới viết rằng: “Tâm yên mọi chốn đều yên Tâm buồn ngồi giữa cõi tiên cũng buồn” Sao mà nó ná ná như tinh thần trong Bông Hồng Cài Áo mà Thiền Sư Nhất Hạnh có viết một đoạn rằng:”Nếu bạn không vừa ý thì dẫu cho có làm đến Ngọc Hoàng Thượng Đế bạn cũng chẳng vừa lòng…”.
29/10/2022(Xem: 7237)
Rồi đến ngày mai tôi ra đi Để lại sau lưng những thứ gì? Niềm thương còn dở, bao vụng dại… Ai nhớ người xa, mắt hoen mi? Hội ngộ - chia ly chuyện tất nhiên Lưu luyến mà chi, chỉ thêm phiền Các pháp hữu vi đều huyễn giả Hiện hữu chỉ là gá tạm duyên.
27/10/2022(Xem: 12018)
Mùa "đại dịch" không được phép đi đâu cả, ra vườn xới đất trồng mấy dây bầu. Tiết trời đã sang xuân, vài loài hoa đầu mùa đang nở rộ. Nghỉ tay ngồi bên thềm sân, bỗng dưng chợt nhớ đến một bài thơ say của thi hào Lý Bạch. Cách nay lâu lắm, đã hơn 12 thế kỷ, có một thi hào say khướt giữa một mùa xuân. Tuy không biết uống rượu thế nhưng dường như tôi cũng say, say cái hơi men của một thi nhân thời Đường và cả sự đảo điên của thế sự. Bài thơ mang tựa là "Xuân nhật túy khởi ngôn chí" (春日醉起言志 ), có nghĩa là "Ngày xuân chợt tỉnh giấc trong lúc quá chén, tự nói lên những cảm nghĩ của mình".
23/10/2022(Xem: 6546)
Nay đã thấy càng vướng nhiều quan hệ Những buộc ràng trách nhiệm gắn chặt thêm Không còn tự do thưởng thức tĩnh lặng êm đềm Nên nội tâm đã bắt đầu mệt mỏi!
20/10/2022(Xem: 12375)
CHÚT TÌNH THÔI Từ phố thị, ta đi về trầm mặc. Nghe triền non chim hót điệu vô tranh. Nhìn đá lặng, dòng sông xưa vẫn chảy. Ta yêu đời vì biển mặn non xanh. Đời là vậy, mà tình ta vẫn vậy, Chút tình chung trang trải giữa tang hồ. Ấm lữ khách giữa chiều đông quạnh quẽ. Mát nhân sinh giữa nắng hạ điêu tàn. Quá khứ đi rồi, tương lai ảo mị, Hiện tại nào làm bến đỗ thời gian. Chút tình thôi, xin ai đừng vắt cạn. Để sông xưa còn mãi với trăng ngàn! Thích Thái Hòa