Hồi Hướng Công Đức

03/10/202519:20(Xem: 3759)
Hồi Hướng Công Đức
ht tinh su-1
Hồi Hướng Công Đức


Phước lành con đã tạo ra
Các đời quá khứ hay là đời nay
Nghiệp chưa cho quả phước nào
Nguyện thành pháp độ để vào thiện căn .
Sau này dù tạo mấy lần
Từ đây cho đến vô sanh Niết Bàn
Hễ làm chuyện tốt sẵn sàng
Mỗi điều lợi ích thành đoàn nhân duyên
Giúp cho phiền não sớm yên
Trợ mau giải thoát kế liền kiếp sau
Nếu trễ chẳng gặp Phật nào
Nhằm kỳ Độc Giác làm sao cũng thành .
(HT Tịnh Sự dịch từ Pali)

Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Việt Nam Phật Giáo Siêu Lý Tự Khai Sơn A Tỳ Đàm Việt Nam dịch giả húy Thượng Tịnh hạ Sự Trưởng Lão Hòa Thượng Tôn Sư



ht tinh su-1

Tỳ Khưu Tịnh Sự, thế danh là Võ Văn Đang, sinh năm Quí Sửu (1913), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, tại một vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần Thị Thông.

Năm 7 tuổi Ngài đã học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được người đương thời gọi là “Thần đồng Lê Quí Đôn”. Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài xuất gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Đéc). Thấy Ngài quá thông minh nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ Lực.

Năm 20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê, Sa Đéc. Đến năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa Phước Định, Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa Viên Giác, Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo Nam Tông đã chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia, thọ giới theo Phật giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko) ở Trà Pét.

Từ Campuchia Ngài có thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới Tỳ kheo tại chùa Pakknam Bangkok. Ngài được thầy tế độ ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì thấy Ngài chuyên tâm hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Đàm (Abhidhamma) trong bảy năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ trì chùa Viên Giác – Vĩnh Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp học A Tỳ Đàm Pàli (Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.

Muốn cho môn học Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm 59 tuổi Ngài về trụ trì chùa Siêu Lý – Sài Gòn. Mở trường chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các bộ sách Giáo Khoa Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh Tạng Abhidhamma.

Ngài đã đào tạo nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế hệ đệ tử này đã kế thừa sự nghiệp của Ngài truyền bá môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi Diệu Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Đại Đức Giác Chánh, cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương đã có công đức duy trì và phát triển môn học Abhidhamma.

Về phương diện đào tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế độ truyền giới xuất gia cho hàng trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của Ngài một cách tốt đẹp.
Không những chỉ đào tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều cơ sở tự viện: chùa Viên Giác (Vĩnh Long), chùa Long Linh, chùa Giác Phước, chùa Pháp Độ, chùa Trúc Lâm, chùa Siêu Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.

Điểm nổi bật nhất trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng luận Pàli tức Tạng Abhidhamma (A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp) gồm:
  1. Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani)
  2. Bộ Phân Tích (Vibhanga)
  3. Bộ Chất Ngữ (Dhàtu kàthà)
  4. Bộ Nhân Chế Định (Puggala Pannatti)
  5. Bộ Ngữ Tông (Kàthà Vatthu)
  6. Bộ Song Đối (Yamaka)
  7. Bộ Pháp Trí (Patthana)

Đó là phần chánh tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma được giảng dạy tại các trường Phật Học Thái Lan:
  1. Vi Diệu Pháp Sơ Cấp
  2. Vi Diệu Pháp Trung Cấp
  3. Vi Diệu Pháp Cao Cấp
  4. Thanh Tịnh Đạo
  5. Diệu Pháp Lý Hợp

Sự nghiệp đạo pháp của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài đã dành hết đời mình để phiên dịch trọn Tạng Vi Diệu Pháp (Luận Tạng Pàli). Qua công hạnh này, Ngài là một ngôi sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.

Đêm mùng 6 tháng 5 năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di huấn và gởi lời sám hối đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm và viên tịch lúc 6 giờ 15′ sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức 05-06-1984), hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.

Trước khi viên tịch Ngài đã giảng về sự khổ, rồi mỉm cười tắt hơi thở cuối cùng. Ngài ra đi nhưng sự nghiệp đạo pháp của Ngài vẫn còn ở lại với hậu tấn ngưỡng cầu giải thoát khổ đau, để hằng an vui tự tại nơi Niết Bàn tịch tịnh.

(budsas.org)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/04/2014(Xem: 18958)
Tôi thường nghĩ đến những dòng sông Chỉ nhận rồi cho rất thật lòng Dẫn lối suối khe về với biển Đưa đường kênh rạch chảy qua đồng
27/04/2014(Xem: 19920)
Tháng tư về đó – Em ơi ! Vàng trong ánh ngọc, Sạch ngời tuyết mây. Bốn phương Trời tạnh mưa bay Hoa ưu đàm nở, Phương nầy nguyệt viên.
27/04/2014(Xem: 37286)
BÀI KỆ A-TU-LA (thơ) Vi Tâm Nhân đọc cuốn « Vòng Luân Hồi » của TN Giới Hương (http://quangduc.com/a53177/vong-kho), trong đó có bài kệ Hộ Pháp ủng hộ Phật pháp mà các chùa thường tụng cuối thời kinh, Vi Tâm xin cảm tác bài kệ thành thơ lục bát. A-tu-la quỷ (thuộc quỷ ở trời), từ trứng sanh ra. Sống ở hư không. Có vị phát tâm bảo hộ chánh pháp.
26/04/2014(Xem: 20538)
KHÓC THƯƠNG NGƯỜI MẸ TRẺ VIỆT NAM (Chị: Phan Ngọc Thanh sinh năm 1985 trong vụ chìm phà Sowel) Một mình đi lấy chồng xa Quê hương để lại Cha già Mẹ yêu Nhớ thương cách trở bao chiều Theo chồng con nhỏ tìm nhiều kế phương.
26/04/2014(Xem: 19894)
Cha lành, Phật Tổ Thích Ca Giáng trần cứu khổ, Ta Bà trầm kha Lời Cha ban bảo thiết tha: “Nước mưa một vị, Pháp Ta nhiệm mầu” “Ai ai tín nguyện tu mau”
26/04/2014(Xem: 16360)
Một thương, chú điệu có duyên Hai thương, miệng núm đồng tiền dễ thương Ba thương, lúc chú đốt hương Bốn thương, lạy mọp bốn phương dịu dàng Năm thương, chuông mõ nhịp nhàng Sáu thương, ngủ gục trên bàn tụng kinh
26/04/2014(Xem: 16295)
Hạt bồ đề từ tiền kiếp đã gieo Cách lạy nhịp nhàng, năm vóc xuống veo Thân cụp lại, đầu chạm trán nền đất Phải chăng kiếp trước chú đã Tỳ kheo ?
24/04/2014(Xem: 30633)
(Nguyện thứ nhất) Khi Ta thành đạo Bồ đề, Băm hai tướng tốt đề huề tụ thân Hào quang vô lượng sáng ngần Chúng sanh ai cũng được phần như Ta
23/04/2014(Xem: 23086)
Nữ thuyền viên Park Jee Young (22 tuổi) đã từng là một sinh viên, ước mơ của cô cũng muốn tốt nghiệp đại học như bao sinh viên khác. Nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên Cô đã phải nghỉ học giữa năm thứ 2, xin làm nhân viên hàng hải, là một nhân viên trong chiếc phà Sewol để phụ giúp kinh tế cho Bố Mẹ và gia đình. Làm nhân viên tại đây được 6 tháng, thì thật không may chuyến phà Sewol gặp đại nạn (16/04) khi đang chở 476 hành khách (phần lớn là học sinh) ra đảo Jeju.
20/04/2014(Xem: 21061)
Bé Kwon Chi – yeon mang trong mình hai dòng máu: Mẹ là người Việt Nam, Bố là người Hàn Quốc. Theo Cha Mẹ và anh trai mới 6 tuổi lên chuyến phà Sewol để đến đảo Jeju lập nghiệp. Thật không may, chuyến phà chở hơn 400 người đã gặp đại nạn bị đắm chìm vào ngày 18/04. Hiện tại chính phủ Hàn Quốc đã xác định 29 người đã chết và 270 vẫn còn mất tích trong đó có gia đình của Bé Chi – Yeon.