Tập Thơ: Những Câu Thơ Tu Tập

10/08/202419:23(Xem: 13886)
Tập Thơ: Những Câu Thơ Tu Tập




phat thuyet phap 2



TẬP THƠ
NHỮNG CÂU THƠ TU TẬP
Tác giả: Cư Sĩ Tâm Lương Dào Mạnh Xuân

🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️






Nam Mô A Di Đà Phật

Kính thưa Quý bạn đọc,

Chúng tôi trình bày phần dưới đây vì muốn người đọc thơ cần phải hiểu sơ qua về niêm luật thơ.
Vì hiểu niêm luật, khi đọc thơ, thấy đúng niêm luật mới thấy thú vị và hứng khởi để đọc tiếp. Trước khi
vào phần niêm luật, xin được ghi:
*Thanh Bằng gồm dấu Huyền và dấu Ngang.
*Thanh Trắc gồm những dấu: Sắc, Nặng, Hỏi, Ngã.
(A): Niêm Luật Thơ Lục Bát: Xin xem ví dụ:
thơ Truyện Kiều:
(Câu 1): Trăm năm(2) trong cõi(4) người ta.(6)
(Câu 2): Chữ tài(2) chữ mệnh(4) khéo là(6) ghét nhau.(8)
(Câu 3): Trải qua(2) một cuộc(4) bể dâu (6)
(CÂu 4): Những điều(2) trông thấy(4) mà đau (6) đớn lòng.(8)
Nhận xét:
Quy tắc cơ bản của Cặp Câu Lục Bát là các chữ 2, 6, 8 mang thanh BẰNG,
chữ 4 mang thanh TRẮC. Các chữ còn lại tùy ý.
Đuôi câu 1 chữ 6 (ta) Vần với chữ 6 câu 2(là).
Đuôi câu 2 chữ 8(nhau) Vần với chữ 6 đuôi câu 3 (dâu).
Đuôi câu 3 chữ 6 (dâu) Vần với chữ 6 câu 4(đau).
(B):Niêm Luật Thơ 8 chữ. (Niêm luật thơ 9 chữ như thơ 8 chữ.)
(B.1): Để cho câu thơ đọc lên có âm điệu, chúng tôi đã dùng cách gieo vần như thơ LỤC BÁT ở chữ 6 và
8. Ví dụ:
(Câu 1):Một người gặp thất bại hay thành công.(8)
(Câu 2):Tất cả do Phước tích trong(6) cuộc đời.(8)
(Câu 3):Thành công nhiều, Phước có, lần lần vơi.(8)
(Câu 4): Biết vậy, TU PHƯỚC, tức thời(6) Phước tăng.
Quan sát 4 câu thơ trên ta thấy:
● Chữ 8 câu 1(công) vần với chữ 6 câu 2 (trong).
● Chữ 8 câu 2(đời) vần với chữ 8 câu 3 (vơi).
● Chữ 8 câu 3 (vơi) vần với chữ 6 câu 4 (thời).
● Nếu không CÙNG VẦN thì phải cùng THANH.
● Các chữ còn lại không bắt buộc.
(B.2): Ở thơ 8 chữ, chữ cuối câu 1 có thể mang thanh TRẮC. Ví dụ:
Đủ duyên, Con về Hành Hương Đất “Phật”,
Niềm tin vào Đạo càng “thật” sâu “dày”,
Khởi tâm nể kính bạn Đạo, Cô, “Thầy”,
Tinh tấn tu tập cả “ngày”, lẫn đêm,
Cách gieo vần cũng giống phần trên: “Phật” vần với “thật”
: “dày” vần với””Thầy”
: “Thầy” vần với “ngày”
Nhận xét: Nếu làm thơ lục bát, gặp trường hợp ta không thể tìm chữ thanh BẰNG ở các chữ 2, 6, 8 thì
hãy chuyển thành thơ 8 chữ. Xin mời đọc “Một Ngày Ở Bồ Đề Đạo Tràng” trang 164 trong sách này.
(B.3): Ở thơ 8 chữ, nhiều tác giả không áp dụng CÙNG VẦN ở những chữ 6 và 8 như đã trình bày ở trên.
Vì thơ 8 chữ có nhiều cách gieo vần khác nữa nên tùy theo sở thích mỗi người, họ dùng cách nào cũng
được.
3
(C): Niêm luật thơ 7 chữ, 8 câu.
Với “Thơ 7 chữ, 8 câu”. Xem ví dụ:
Thương vợ (Trần Tế Xương)
(1): Quanh năm(2) buôn bán(4) ở mom(6) sông.
2): Nuôi đủ(2) năm con(4) với một(6) chồng,
3): Lặn lội thân cò khi quãng vắng.
(4): Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
(5): Một duyên, hai nợ, âu đành phận.
6): Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
7): Cha mẹ thói đời ăn ở bạc.
(8): Có chồng hờ hững cũng như không.
(C.a): Nếu chữ 2, câu (1) là thanh BẰNG:
(a1): Thì nhóm (1): bốn câu 1, 4, 5 và 8: các chữ 2 và 6 đều thanh BẰNG.
: Còn chữ 4 phải thanh TRẮC.
(a2): Và nhóm (2): bốn câu 2, 3, 6 và 7 : các chữ 2 và 6 đều phải thanh TRẮC.
: Còn chữ 4 thanh BẰNG.
(a3): Còn về VẦN: * Chữ cuối câu 1,2,4,6 và 8 phải cùng vần.(vần “ông)
* Chữ cuối các câu 3,5 và 7 không bắt buộc về VẦN.
(a4): chữ 5 và 7 phải khác THANH. Nếu không được vậy thì vẫn có thể dùng cùng THANH.
Ví dụ: “ Một mảnh tình riêng ta với ta.”// “ta” và “ ta” cùng THANH. (Qua Đèo Ngang: thơ Bà Huyện
Thanh Quan)
(C.b):Nếu chữ 2, câu (1) là thanh TRẮC:
(b1): Thì nhóm (1): bốn câu 1, 4, 5 và 8 : các chữ 2 và 6 đều thanh TRẮC.
: Còn chữ 4 phải thanh BẰNG.
(b2): Và nhóm (2): bốn câu 2, 3, 6 và 7 : các chữ 2 và 6 đều phải thanh BẰNG.
: Còn chữ 4 thanh TRẮc.
(b3): Còn về VẦN: * Chữ cuối câu 1,2,4,6 và 8 phải cùng vần.
* Chữ cuối các câu 3,5 và 7 không bắt buộc về VẦN.
(b4): chữ 5 và 7 phải khác THANH. Nếu áp dụng đúng quy luật này thì khi đọc một bài thơ 7 chữ, 8 câu
(hay 4 câu) ta nghe rất êm tai.
(C.c):Còn thơ 7 chữ, 4 câu: áp dụng niêm luật như 4 câu đầu.
(D):Niêm Luật Thơ Song Thất Lục Bát:
Xin mời đọc ví dụ trong Chinh Phụ Ngâm:
Thuở Trời Đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi nầy.
Ta thấy: “bụi” cùng THANH với “nỗi”. // “Chuyên “vần với “trên”. // “Trên vần với “nên”.
Trong suốt “TẬP THƠ: NHỮNG CÂU THƠ TU TẬP” nếu có những sai sót về niêm luật hoặc những
khiếm khuyết khác, kính mong quý vị thông cảm.

Xin chân thành cảm ơn quý vị. Trân trọng

SAN JOSE, CALIFORNIA ngày 06 tháng 08 năm 2024

Tâm Lương Đào Mạnh Xuân




hoa_sen


HỌC HẠNH NHẪN NHỤC
Hay HẠN CHẾ SÂN HẬN 


Giận, Sân một niệm khởi lên,
Muôn ngàn nghiệp chướng chực bên liền liền.
Vậy điều cần nhớ trước tiên:
Luyện tâm NHẪN NHỤC để yên mọi bề.

Dù ai bêu xấu, mắng chê …
Ta xem như thể không hề chi đâu:
Chú tâm hít thở thật sâu,
Hoặc là niệm Phật nhiều câu chí thành,

Bị oan ức, Phật dạy rằng:
Không bào chữa, nghiệp dễ dàng tiêu tan.
Thực hành: SÂN biến rất nhanh,
Còn không, nhớ thuộc rành rành lời răn:

Trách mình trước, hãy trách nhân.
Cũng làm cơn giận bội phần bớt ngay.
Hay ta tạo ác trước đây,
Nên nay quả báo lộ bày chớ chi!

Còn điều này nữa, nhớ ghi:
Có ai mắng chửi, vội chi giận hờn,
Họ buông những tiếng độc mồm,
Chối từ không nhận, cõi lòng nhẹ đi.

Làm điều này lợi những gì?
Sẽ trừ được họa, một khi im lời.
Tâm hồn an ổn thảnh thơi,
Phát sinh trí huệ, cuộc đời vui tươi.

Còn xem “TA” lớn tựa trời,
Ai mà đụng đến, tức thời nổi sân.
Ấy người ngã mạn, kiêu căng,
Độc tài, cố chấp, hung hăng làm đầu,

Gây người thân lắm khổ đau,
Chửi thề, la lối nặng sao tâm hồn.
No không ngon, giận mất khôn.
Điều hay ấy phải thường ôn trong lòng.

Cả rừng công đức mênh mông,
Đốm SÂN hiện, đốt sạch bong chẳng còn.
Có người SÂN giết vợ, con,
Gây bao án nặng, chẳng còn tính nhân,

Lại đưa lắm bệnh vào thân:
Bệnh tim, mất ngủ bần thần canh thâu,
Huyết cao nữa,... khổ làm sao!
Quá SÂN, đứt mạch máu đầu, chết ngay.

Lửa SÂN thiêu đốt ngày ngày,
Não phiền, tức giận,… vò giày tâm ta.
Nổi SÂN miệng sẽ phóng ra,
Bao nhiêu lời ác, nghiệp ta lãnh phần.

Người SÂN, chết khổ vô ngần,
Đoạ ba đường ác, muôn ngàn đắng cay.
Ôm SÂN, quá khổ thế này!
Hãy mau cố bỏ, chớ chầy nữa chi.
Hãy làm có lợi tức thì:
Thân, tâm bớt bệnh còn gì sướng hơn.

Thành tâm kính mong Quý Bạn Đạo hữu duyên hãy cùng chúng tôi cố thực tập hằng ngày HỌC
HẠNH NHẪN NHỤC Hay HẠN CHẾ SÂN HẬN để đạt được mục đích là Dẹp Bớt Cái TA. Nếu được
vậy, chúng tôi xin đem công đức có được này hồi hướng tất cả Pháp giới chúng sanh, tương lai đều sanh
về Tịnh độ. Xin chân thành cảm ơn quý vị đã đọc bài viết và thực hành.
Phần đọc thêm:
Hãy luôn nhớ: chớ chê “nghịch cảnh” của người.(9 chữ)
Có khi gặp QUẢ BÁO ngay đời này thôi.
Nhục Mạ: tội ác khẩu nặng lắm, chẳng chơi!
Một lời nói chín chắn, thảnh thơi tâm hồn!

Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️



pdf icon-2
Tập Thơ Những Câu Thơ Tu Tập_Tâm Lương Đào Mạnh Xuân









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/04/2026(Xem: 729)
Xưa con cháu nương tâm từ Bọ Mạ Luôn hiền hoà giúp đỡ cả yêu thương Xa Người mãi mà lòng hằng mong tưởng Cả xóm giềng hoài nặng nghĩa tình vương… Sống thanh lương vị nghĩa có trước sau Giữ đạo hiếu như giữ gìn diện mạo Để an lòng Người hơn cả nguyện cầu Gia đình chúng con nay thời xin gởi Việc cải táng đưa về nơi đất mới Cầu Bọ Mạ cùng đồng tâm hoan hỷ Từ Gò Dưa đến An Lạc Garden SaLa Nơi đất mới mong Người nương thân nghỉ Những kỷ niệm thiếu gì trong ký ức Tình thương vô bờ Bọ Mạ dành cho Phải giữ lấy lòng mà hay vượt khó Lấy nghĩa nhân cõi thế để nương nhờ Bọ Mạ từ nay đã đẹp mộ phần Thế gian luôn xứng đáng, lẽ sống chân Gia đình nội ngoại muôn đời tạc dạ Thịnh vượng bì
16/04/2026(Xem: 1427)
Trùng Khổ Thích Minh Chánh Sương lạnh chiều tàn cuộc trần ai Đá dựng bên lều gối tựa vai Miên man sương khói đời sương gió Tím cả khổ đau phủ nhân loài Đau buồn chưa dứt tận đáy lòng Lại vừa nhuốm lấy kiếp sầu đông Len lổi vào trong chùm thiên biến Khổ nọ sầu kia cứ chất chồng Vốn dĩ đường xưa mãi lưu thông Nhưng vì dan díu kiếp tang bồng Nên sầu nhân thế, sầu nhân thế Cứ vậy mà nghe rối tơ lòng Xao xác từng không nhuốm ly tan Đau khổ chồng nhau kiếp cơ hàn Ôi, cõi nhân sinh sầu vạn cổ Rưng rức huyết lệ giữa trần gian. Vạn Hạnh ngày 16/4/2026
15/04/2026(Xem: 2690)
Giữa dòng đời vô thường biến động, hiếm có ai khi tuổi đã xế chiều mà tâm vẫn an nhiên, trí vẫn sáng suốt, và lòng vẫn hướng trọn về Tam Bảo như lão cư sĩ Thị Tâm Ngô Văn Phát (hình trên, cụ đứng bên phải HT Bảo Lạc, bên trái là con trai cụ, anh Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp). Cuộc đời của Cụ là một hành trình dài qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng cũng chính là một minh chứng sống động cho sức mạnh của chánh tín và hạnh nguyện tu tập bền bỉ. Lão cư sĩ Thị Tâm sinh ngày 30/10/1929 (Kỷ Tỵ), từng là Thủ khoa Khóa 11 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (1955), giữ cấp bậc Trung Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cụ đã trải qua những năm tháng gian lao trong lao tù cải tạo tại Hoàng Liên Sơn. Sau đó, định cư tại Hannover (CHLB Đức) từ năm 1984, Cụ tiếp tục dấn thân phụng sự đạo pháp và cộng đồng, cộng tác lâu dài với báo Viên Giác, đảm nhiệm vai trò Hội trưởng Hội Phật tử Việt Nam tại CHLB Đức suốt nhiều năm.
15/04/2026(Xem: 1764)
Chẳng quản ngại đường đi chật hẹp, Hay bản án chất chồng những hình phạt vây quanh, Tôi là người làm chủ vận mệnh của mình, Tôi là thuyền trưởng lèo lái linh hồn về bến đẹp !
14/04/2026(Xem: 986)
Đại Ngàn Nguyên sơ…! Du Tăng lên núi ngồi chơi Nghe “Thần” hỏi nhỏ, mấy lời kinh xưa…? Du Tăng bạch vấn nhị Thừa…? Kinh không bát nhã, hỏi thưa đáp rằng..? Đời người mấy kiếp thời dong Đáp rằng: nghìn kiếp, giữa dòng nhân sinh. Đời người mấy kiếp lụy tình..? Đáp rằng: Nghìn kiếp, một mình sinh ra. Đời người mấy kiếp trong ta Đáp rằng: nghìn kiếp, ta bà khổ vui… Đời người mấy kiếp ai ơi Đáp rằng: nghìn kiếp, phải thời tu thân. Đời người mấy kiếp nhớ ân…? Đáp rằng Phật dạy: bốn phần ân sâu…? Đời người mấy kiếp hồi đầu..? Đáp rằng Phật dạy: Niệm lầu Phước duyên. Đời người mấy kiếp ngồi yên, Đáp rằng lữa đốt, bến thuyền sân si…? Đời người mấy kiếp oai nghi…? Đáp rằng tham ái, sầu bi não phiền. Giờ này, rừng hát cõi huyền, Du Tăng về chốn, tịch hiền thênh thang. Y vàng giới luật nghiêm trang. Du Tăng độc bước, đại ngàn nguyên sơ. Riêu phong cổ Thụ huyền cơ Độc cư tịch tọa, bến bờ tự do. Trăm năm rừng hát “U Bò”. Du Tăng ghé lại, nắng tà hu
10/04/2026(Xem: 3176)
Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở: “Một hơi vừa đi mất Cho ta hơi mới đầy Chan hòa hương màu đất Vui trời chơi gió bay”
10/04/2026(Xem: 2111)
Thầy vẫn còn nơi đó Nâng bát cơm trắng ngần Bài kinh hòa chuông mõ Ấn quyết hộ nhân tâm Y vàng thơm khiêm hạ Đạo ngôn tỏa ân tình Thơ mềm tươm mạch đá Xuống đồi nhập đồng xanh Trai đường rền diệu ngữ Vô trụ với kim cang Lục hòa bên pháp lữ Hỏi gì chuyện hợp tan?
10/04/2026(Xem: 1922)
Những điều tốt chưa chắc là đã đẹp Góc độ nhìn có rộng hẹp khác nhau Vị thế nào để thấy rõ trước sau Tốt và đẹp đừng nhuộm màu như một Những gì đẹp chưa hẳn đều là tốt Đẹp bề ngoài ai biết tột bên trong Sống ở đời cần phải hiểu rõ thông Tin nhân quả đừng để lòng oán trách
09/04/2026(Xem: 2300)
Ta về thăm pháp lữ Đồi nắng đổ chang chang Tìm hình xưa bóng cũ Hoa khoe sắc hai hàng Chân già qua bậc cấp Nhớ năm tháng thanh xuân Đâu màng chi được mất Chí nguyện phát vô cùng Nắng soi từng vết tích Gió đẩy thoảng trầm hương Rêu rong tô tường vách Đồi còn tỏa thanh lương
09/04/2026(Xem: 2848)
Thời đại chuyển mình, nhịp đời giông bão, Kẻ cố ngăn dòng, kẻ bảo cuồng quay. Thuận theo quy luật tiến hóa , trí nhân có hay ? Nhịp đời gõ nhịp, mở góc nhìn cùng nhịp,! Thức tỉnh bên trong: “chọn lối hài hòa để bắt kịp”