Mây trắng thong dong (thơ)

20/05/202411:04(Xem: 7365)
Mây trắng thong dong (thơ)

may trang


Mây trắng thong dong

nhớ thuở xưa – khi ngươi còn là đám bạch vân bay thong dong

ta theo nguồn múa ca đi về đại dương mênh mông.

ngươi lưu luyến chốn đỉnh cao, lắng tiếng reo cười ngàn thông

ta nhấp nhô trên sóng bạc, lên xuống vào ra muôn trùng

kịp đến khi thấy trần gian quằn quại lệ chảy thành dòng

thì ngươi biến thành mưa, nhỏ giọt tuôn tràn đêm đông

y đen mịt mờ một phương chừ, mặt trời hấp hối

ngươi gọi ta về, cùng nhau giăng tay nổi trận cuồng phong.

lòng thảnh thơi đâu, khi hoa ngàn cỏ núi còn rên siết hận bất công,

ngươi đưa hai tay thiên thần, quyết tâm tháo bỏ cùm gông.

trong khi bóng tối phủ đầy, họng súng đen ngòm bạo lực

xương dồn thành gò cao chừ, trong khi máu đã chảy dài thành sông

 

hai bàn tay ngươi giập nát, thương ôi, xích xiềng vẫn chưa tháo được,

ta gọi sấm sét về bên ngươi, quyết cùng bạo lực mở cuộc thư hùng.

gan dạ hơn người, trong đêm ngươi hóa thành Sư Vương rống lớn

hàng vạn loài ma quái nghe ngươi, đã cầm cập run trong đêm sương

hiên ngang không lùi bước chừ, dù phía trước dày đặc hầm chông,

ngươi thản nhiên đưa mắt nhìn bạo lực chừ, như nhìn vào khoảng không

Sống Chết là chi chừ, ép uổng nhau sao được?

ngươi gọi tên ta mà cười chừ, không một lời rên siết, dù tra tấn cùm gông

y giờ thoát đi, xiềng xích chẳng còn buộc nổi chân thân,

ngươi trở về kiếp xưa mây trắng, thảnh thơi trên bầu trời mênh mông;

Đến, Đi tự ngươi – đỉnh cao nào thích thú thì ngươi dừng lại,

cưỡi trên sóng bạc đầu chừ, ta hát ru ngươi khúc hát bi hùng.

Nguyệt san Phật giáo Việt Nam xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ do thầy Mãn Giác chủ trương đã in bài này trong số đặc biệt Mây trắng thảnh thơi bay kỷ niệm Thích Thiện Minh (số 18 và 19, tháng 12 năm 1979). Thầy Thiện Minh là một trong những vị cao tăng Việt Nam hiện đại, đã từng đóng góp lớn lao cho phong trào phục hưng Phật giáo từ 1949 đến 1974. Là một người túc trí và can trường, Thầy đã từng bị ám sát và sau đó bị chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu kết án mười lăm năm khổ sai, sau đó lại bị chính quyền Hà Nội giam giữ trong trại học tập và cuối cùng đã bị bức tử vào ngày 18 tháng 10 năm 1978.

Tại Pháp, thầy Nhất Hạnh được điện báo về hung tin này ngày 21 tháng 10 năm 1978; Thầy đã chỉ thị cho chúng tôi trong Phái đoàn làm ngay một bản tin gửi tới các hãng thông tấn quốc tế tại Paris. Bài thơ được làm ngay tối đó.

Trong tờ Phật giáo Việt Nam in tại Los Angeles, những chữ ngươi đã được in lầm thành chữ người vì vậy hùng khí của bài thơ bị giảm đi khá nhiều. Nay xin trích lại theo nguyên văn trong Dấu chân trên cát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/04/2014(Xem: 26864)
Hôm nay Phật Đản trở về Ta Bà hiện cảnh hoàng quê năm nào Từ trời Đâu Xuất trên cao Hộ Minh Bồ Tát nguyện vào Phật (ứng) thân. Ma Gia mộng ứng điềm lành Voi ngà sáu chiếc hóa sanh Thánh hiền Bảy đóa sen quý kim liên Ưu đàm một đóa Thánh hiền Đản sanh.
13/04/2014(Xem: 15232)
Hai chiếc bình trống rỗng Một đậy nắp một không Thả hai bình xuống biển Một chiếc nổi bềnh bồng
13/04/2014(Xem: 13975)
Có khi nào gió hỏi Gió thổi từ phương nao Có khi nào đá hỏi Đá có tự thuở nào Có khi nào sông hỏi Nước từ đâu chảy về Có khi nào trăng hỏi Đêm sao dài lê thê
12/04/2014(Xem: 45988)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây
09/04/2014(Xem: 15799)
Có Xuân nào, Không mai vàng trước ngõ Không câu đối giao mùa, Tỉnh thức – Xuân từ đó… Giọt sương trong – Phật Thừa !
31/03/2014(Xem: 16333)
đám mây đi qua dòng sông tôi mất bóng và tôi vỡ ra dập dềnh trôi xác ma quá khứ tế bào óc tim tóe lên ánh lửa bập bùng bên này leo lét bên kia bít bùng thế giới đa tri đường ngược đường xiên
29/03/2014(Xem: 14641)
Đi tu chẳng phải trốn đời Đi tu cốt để chuyển dời tánh, tâm. Đi tu chẳng mộ tiếng tăm Đi tu chỉ để âm thầm Độ, Tha (*) Đi tu thức giấc Nam Kha Đi tu để thoát Ái hà mênh mông .
29/03/2014(Xem: 24773)
Trời đất mênh mang sương khói, một thời thơ trẻ dại, bàng bạc nắng quái u buồn nơi quê nhà giữa hai đầu biển núi lung linh. Sinh năm 1952 ở Quán Rường, Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, một chốn miền “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” ấy, Nguyễn Lương Vỵ lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học. Từ thuở nhỏ vốn bẩm sinh có năng khiếu làm thơ, đặc biệt được ông nội ( nguyên là một nhà Nho, có thời kỳ làm chánh tổng ) trực tiếp truyền dạy các loại thơ tứ tuyệt, Đường luật, nên biết mần thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thuở còn chạy rông chơi bên mấy cổ tháp rêu phong Chiên Đàn, cạnh dòng sông Tam Kỳ và bãi biển Tam Thanh xanh biếc mộng.
26/03/2014(Xem: 14870)
Sen kinh Phật Loài hoa tiết hạnh dị thường Đêm đêm giữ ngọc, gìn hương cho đời Trinh nguyên lay động đất trời Thơm câu kinh Phật, ngát lời ca dao.
26/03/2014(Xem: 16340)
Nếu đánh mất đi Nhiệt Tâm Con người trở nên lạnh nhạt Năm tháng trôi qua âm thầm Một ngày, một đời không khác.