Tuyển Tập Thơ Quê Chiều

11/03/202416:56(Xem: 9251)
Tuyển Tập Thơ Quê Chiều


Que Chieu_HT Thich Dong Bon



MỘT TIẾNG DIỀU ĐÊM
ĐỘNG SUỐI THƠ


Đây là tập thứ 5 trong tuyển thơ Quê chiều của thi sĩ - thiền sư Thích Đồng Bổn. Đọc thi phẩm này, trong tôi chợt hiện lên hai hình ảnh - âm thanh hòa quyện: tiếng diều đêm vi vút và tiếng suối thơ dạt dào. Đêm vắng, trời dẫu trong, vằng vặc trăng cũng khó thấy cánh diều, chỉ tiếng sáo diều bổng trầm vọng lại. Phải tĩnh tâm, phải lắng hồn mới thấu được thanh âm đồng quê ấy. Còn suối thơ trong trẻo, lặng lẽ mà kiên tâm, đi xa để trở về, khởi nguồn cho sự hòa kết đạo - đời, tạo duyên cho bao gặp gỡ của những chân tâm truy tầm cái đẹp trong cõi tịnh.

Là tu sĩ, thi nhân thường bộc lộ ý hướng hoằng dương Phật pháp qua sáng tác của mình. Điều này cũng là hợp lẽ; bao người trước và cùng thời với tác giả đã, đang và sẽ làm. Nhưng đạt được tâm nguyện xét từ góc độ giao cảm, lan tỏa của thi tính, thi ngôn hay không, là chuyện khác. Cảm giác mục đích giáo huấn mà nhiều người xem trọng, với thầy Đồng Bổn, chỉ là hệ quả tất yếu, đến sau những ngẫm ngợi, phát hiện tự nhiên mà hàm chứa bao ý vị của thơ, của đời. Có được điều đó, một phần người thơ thường sử dụng cấu trúc ba phần: Nhập - Luận - Kết. Phần “nhập” là thi hứng khởi đi từ một sự vật, hiện tượng, tình huống,… trong đời sống. “Luận” là những ngẫm suy từ chính trải nghiệm của bản thân tác giả trong cõi đời, cõi đạo. “Kết” là bài học quyện hòa giữa đạo và đời, hướng đến sự khai tâm, đốn ngộ. Ví như bài Suối nguồn, từ mối quan hệ có tính tuần hoàn tự nhiên của suối con với Mẹ nguồn, từ sự tinh khiết của dòng nước đầu non, người thơ chứng nghiệm sự đánh mất bản nguyên của suối, cũng là của mỗi cá nhân, trong hành trình làm người, qua đó nhắn gởi một lời khuyên hữu lí, dễ thực thi “giác lộ”, giúp cho cái tâm được như nhất, an yên giữa dòng đời bất định, xô bồ:

Giáo pháp ấy gọi là tánh thủy
Sống hài hòa vốn dĩ an bài
Bầu đựng tròn, ống chứa thì dài
Sao cũng được, mỗi ngày pháp dược.

Ở nhiều bài trong thơ khác như Sách hay, Biển, Cái cân, Cây cau, Cây chuối, Kính lão, Quả bóng, Thảm chùi chân, Tầm nhìn, Lỗi lầm, Uống trà, Một thuở,… ta cũng gặp cấu trúc này. Lối kiến trúc “tam tài” đó làm nổi bật tính chất của dụ ngôn - những triết lí sống, những bài học quý ngầm ẩn dưới lớp vỏ ngôn từ tựa một thứ nước mát lành để muôn đóa hoa lòng khoe hương tỏa sắc. Đó là lối dụng ngôn theo kiểu “hai trong một”: thực hành thơ đồng thời dụng hành Phật pháp, Phật ngôn cất tiếng thành thi ngôn. Là kiểu “thi tại tâm” nên ý tình tự nhiên hiển lộ, tự nhiên cảm động lòng người.
Tám ba phần trăm bài thơ (58/70 bài) có nhan đề gồm một hoặc hai tiếng. Những tựa tối cô đúc, chỉ một từ, ghim vào tâm trí bạn đọc, gợi ở họ sự tò mò, khả năng đồng sáng tạo: Hỏi, Lắng, Mê, Kiếp, Mượn, Tạm, Nghĩa,… Một mà khơi dẫn tuệ giác tới vô cùng. Thi nhân sẻ chia với chúng ta bao liệu pháp quen thuộc mà hữu dụng để sống bình yên, ý nghĩa: phương thức giữ cho tâm hằng an giữa biển đời cuộn sóng; giải pháp tiêu trừ nghiệp chướng, gieo nhân lành gặt quả thiện, thoát khỏi vòng luẩn quẩn trả vay, giả tạm; cách buông bỏ những muộn phiền đeo đẳng, khắc chế tham sân, vượt bờ mê sang bến giác: “Quán nhân duyên mau dứt vọng mê lầm/ Cho sóng thức không vang ầm tâm thức” (Biển);… Đây cũng là biểu hiện sinh động cho tính hàm súc, nhiều dư ba, lắng đọng của thơ thấm đẫm ý vị Thiền.

Cái duyên khá ấn tượng của tập thơ là sự nhóm gộp các sáng tác cùng đề tài, cùng một trường ngữ nghĩa, trường liên tưởng, có sự giao thoa ý tứ, cũ mới giao duyên: từ cách đảnh lễ của Phật tử, đặc tính của cỏ cây, đồ vật đến chuyện Phật duyên, chuyện mười hai con giáp, những tâm sự về bản thân, về tha nhân,… Phương diện nào cũng có những phát hiện độc sáng. Điều đó cho thấy trường liên tưởng nhạy bén, cảm hứng thơ rất vượng của thi nhân. Chẳng hạn, với một yếu tố thời gian không xác định “khi”, thi sĩ đã quán chiếu đến bao điều: nỗi buồn trước sự vô minh, thói bạc tình, gánh nặng tuổi tác, lẽ sinh li tử biệt, hợp tan (Buồn khi); sự chấp nhận nghịch cảnh, một lòng với lí tưởng để trưởng thành trong đời, trong đạo (Dẫu khi); ý hướng dưỡng tâm luyện chí, nỗ lực tìm hạnh duyên cũng chính là tìm kiếm bản lai diện mục của mình (Đợi khi, Hỏi khi); niềm hi vọng về một kết quả viên thành, dứt khỏi bao ràng rịt cõi Ta bà với luân hồi sinh tử, với lợi danh phù phiếm (Mơ khi); tâm trạng hoài nhớ một quãng đời dĩ vãng để an yên trong hiện tại và vững bước trên con đường phía trước (Nào khi, Ngẫm khi, Nghĩ khi); sự ưu tư, trăn trở trước tuồng ảo hóa, lẽ phù sinh, rồi tự răn, tự quyết để tự do tự tại, an lạc với lựa chọn của mình: “Ở trong thế giới của thiền/Mà nhìn vũ trụ khởi duyên niết bàn” (Ngỡ khi, Nhỡ khi, Thấy khi, Thoảng khi, Từ khi),… Tương tự là những suy ngẫm từ tập tính để từ đó liên hệ đến cốt cách, phẩm hạnh của con người ở cả hai giới nam và nữ. Một chút siêu hình nhưng vẫn hữu lí bởi chứng nghiệm của người trong cuộc. Bao nhiêu điều đặt ra cho độc giả qua không ít trạng huống đời - đạo, đời - thơ mà nhân vật trữ tình Thấy - Hỏi - Ngẫm - Nghĩ… Cảm giác như dẫu ở đối tượng, cảnh huống nào, thi nhân cũng còn vương nợ với tha nhân nhiều lắm. Một bè lau sang bến, một lối nhỏ giữa đời, một bóng mát cho lữ khách dặm xa, một bài tập cho chúng sinh sửa tâm, dưỡng tánh đến với thiện duyên. Đó cũng là ý nghĩa tích cực của thơ, của đạo, vượt khỏi sự hữu hạn của câu từ, một xác tín cho sự dung hòa hai nhân trí: tu sĩ và thi sĩ. Sự đa dạng đề tài, cảm hứng là minh chứng về sự mở rộng tâm không để đón nhận những vang động của đời, lọc qua lăng kính đạo, để cho thơ cất lời: “Vượt lên ngôn ngữ văn tự ấy/ Muôn ngàn tuệ giác vẫn lặng thinh” (Nhưng khi).

Đồng hành với những nẻo đường tu, những suy nghiệm của tác giả, ta dễ dàng tri nhận hình tượng thiền sư - thi sĩ của Thích Đồng Bổn trong thi phẩm này. Đó là tâm thế của người bước đến cửa Không, vui duyên đạo cùng mõ sớm chuông chiều, vững lòng trên con đường đã chọn. Dẫu có buồn vì nhân tình thế thái, vì dâu bể phôi pha, vì tuổi già bệnh tật, nhưng không hề thấy sự than thân trách phận. Thấu suốt chữ “tùy duyên”, nên trên tất cả vẫn là tiếng lòng thiết tha hướng đến đạo, đến đời, để cho tốt đời đẹp đạo, đời đạo vẹn toàn: “Đời hanh thông, đạo mới xiển dương” (Kỉ niệm). Đó là một cái tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến. Với quan niệm, tâm thế sống “tùy duyên”, thuận theo lẽ thiền để vượt qua vòng đau khổ, người thơ đã có được sự an yên, thong dong, tự tại trong “duyên đạo”:

Tan thì cứ để nó tan đi
Thị phi cũng vậy khổ làm gì
Hạnh phúc vui buồn rồi trôi hết
Thôi kệ, mặc lòng nghĩ đến chi!
(Tan trôi)

Như đã nói ở trên, thầy Đồng Bổn không dụng tâm thơ hóa những triết lí uyên áo của Phật giáo. Sự rung động hồn thơ trước hết đến từ những nghĩ suy, đắn đót trước phận người, nỗi mình. Cõi đạo là cái lí, ở ngôi trên; còn cõi đời, cõi thơ là cái tình, là phần đời lắm nỗi. Không ít bài thơ thể hiện tâm trạng lưỡng phân rất con người, rất nghệ sĩ của thi nhân. Tôi, và có thể nhiều độc giả khác, sẽ ấn tượng với những câu thơ lệch chuẩn như thế - một chút Tản Đà muốn làm thằng Cuội chốn cung Hằng, vừa thoát tục vừa vấn vít nghiệp duyên trần thế. Những dòng thơ lưỡng phân cho thấy hành trình tự thức ngộ chẳng mấy dễ dàng của người trong cuộc về lẽ sống, ý nghĩa đích thực của mỗi cá nhân:

Hỏi khi lên gặp chị Hằng
Xin cho ở tạm lầu trăng vài đời
Chờ khi Thánh chúng rước mời
Ra đi xin tạ đôi lời tri ân...
(Hỏi khi)

Để rồi:

Đêm về vằng vặc ánh sao
Thấy mình rơi rụng trên cao mấy tầng.
(Kiếp)

Bởi thế mà nhân vật trữ tình thường có tâm trạng đắn đo, cân nhắc giữa hai cõi trần - tiên, hai cách hành xử: quay lưng thoát tục và hành đạo giữa đời:

Nghĩ đi tính lại ở cõi này
Chẳng đi đâu nữa trụ tại đây
Bây giờ, thực tại là mãi mãi
Nghĩ là tưởng tượng có gì sai!
(Nghĩ khi)

Và cuối cùng đi đến xác quyết:
Quay về tiếp quãng đường lành
Không quay về để tìm danh vị đời
Bước ra được khỏi trò chơi
Nguyện vào nhà Phật lên đồi hoa tâm.
(Quay về)

Tu tập, hành xử phải đạo là một cách trở lại cái “bản thiện”, cái “tự tánh” của con người, để sinh linh thoát khỏi thống khổ của bể vô minh, bến ái tình, lẽ phù sinh vô thường hòng an nhiên, thấu suốt trên đường giác ngộ - “nẻo về” của mình: “tâm hòa tánh thuận để xa luân hồi” (Nào khi).

Tập thơ tái hiện cả một quãng đường từ thuở ấu thơ hồn nhiên vô tư lự giữa làng quê yên bình đến tuổi gần thất thập, giữa ồn ào phố thị, đã thức ngộ lẽ vi diệu của đạo, cái tạm bợ của đời, đã dọn lòng thanh tịnh để hướng vọng Ngày Về của thi nhân: “Nương trong pháp Phật ngõ về an vui” (Phù hợp).
Không nặng nề, phô diễn Phật ngữ, lời lẽ chân tình, giản dị, cận nhân tình,… Tác giả cũng không hề che giấu tâm nguyện mượn thơ để lan tỏa đạo, gởi trao những thông điệp gần gũi, nhiệm màu, để san sẻ ân tình với muôn nơi. Người nghệ sĩ ngôn từ đã kiến tạo cây cầu bền đẹp nối hai bờ đời - đạo, kết nối những tấm lòng từ ái, tạo một kênh hữu hiệu để giao cảm những chân tâm đồng điệu.

BÙI THANH TRUYỀN





pdf






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/01/2016(Xem: 12838)
Phải chi mây đã ngừng bay Phải chi gió chỉ nhẹ lay bên thềm Phải chi nắng hỡi đừng lên Phải chi nỗi nhớ đành quên một lần
12/01/2016(Xem: 13957)
Tuyết rơi trắng ngập sân chùa Hồi chuông theo gió đong đưa gợi thiền Tâm bất vọng quán nhân duyên Trần gian một chuỗi ưu phiền không tên Bạc đầu còn giấc ngủ quên Dẫu mai thức dậy cũng miền chiêm bao Thả neo đời giữa lao xao Để cho tĩnh lặng đi vào cõi chân
12/01/2016(Xem: 15773)
Trang Nhà Quảng Đức chúc xuân Đạo tràng Tu viện một lòng hướng quê “Dê” đi năm “khỉ” lại về “Tâm Viên Ý Mã” nguyện thề phải tu Là “khỉ” tâm rất lu bu Lăng xăng chạy nhảy oán thù tạo gieo
11/01/2016(Xem: 17422)
Tiền thân Đức Phật một thời Từng là chú khỉ sống nơi khu rừng Thân hình to lớn hào hùng Xiết bao mạnh mẽ, vô cùng thông minh, Nhân từ nổi tiếng rừng xanh Giúp người hoạn nạn tâm thành chứa chan. Một ngày rực rỡ ánh vàng Nắng trời tỏa ấm, gió ngàn vờn quanh
09/01/2016(Xem: 20999)
Thiên nhân hỏi: - Thanh kiếm nào sắc bén nhất? Chất độc nào tàn hại nhất? Ngọn lửa nào dữ dội nhất? Bóng đêm nào đen tối nhất? - Đức Phật trả lời: Lời nói trong lúc giận dữ là thanh kiếm sắc bén nhất, dục vọng là chất độc tàn hại nhất, đam mê là ngọn lửa dữ dội nhất, vô minh là bóng đêm đen tối nhất.
09/01/2016(Xem: 11870)
Theo “ngũ dục” (1) sẽ làm mờ chân tánh Khiến bao người phải lụy hại thân tâm Áng mây che tâm trí lắm mê lầm Bao kẻ chết cũng bởi vì ngũ dục: Vàng ngọc của tiền “tài” luôn thôi thúc Biết bao người ham muốn phải chạy theo Tưởng đâu rằng có nó sẽ hết nghèo
09/01/2016(Xem: 13093)
Xưa kia ở chốn núi rừng Có đàn khỉ nọ khoảng chừng năm trăm Họp bầy nô rỡn quanh năm, Một hôm khỉ rủ nhau thăm bìa rừng Có cây cổ thụ nhiều tầng Mọc bên bờ giếng sáng ngần ánh trăng. Giếng sâu. Dưới đáy nước trong Trăng tròn in bóng bềnh bồng nổi trôi Khỉ kêu: "Thôi chết! Nguy rồi! Mặt trăng rơi xuống giếng khơi đây này
07/01/2016(Xem: 11858)
Lập Tịnh Xá: Khai truyền mối đạo Cho chúng sanh nương náu tu hành Dắt người đến chỗ thiện lành Trau tâm dồi trí để thành hiền nhân. Lập Tịnh Xá: Xây nền đạo đức Cho chúng sanh tiến bước lên đường Về miền Cực Lạc Tây Phương Là nơi cảnh Phật Niết Bàn an vui.
05/01/2016(Xem: 18472)
Dòng tộc Họ Hồ tại Việt Nam Được khai sinh từ một người duy nhất Đã hơn một ngàn năm Xuất phát tại Hương Bào Đột Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An Vào thời đại Nhà Ngô - Nhà Đinh Đại Cồ Việt Ngài chính là Đức Nguyên Tổ Hồ Hưng Dật Ngài mang họ Hồ, một tộc họ Bách Việt Văn võ tuyệt siêu, học vị trạng nguyên
02/01/2016(Xem: 42884)
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu ĐàHoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)