Niệm Quán Âm (thơ)

06/03/202418:31(Xem: 5389)
Niệm Quán Âm (thơ)


bo tat quan am-2



Niệm Quán Âm

 

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán đại nguyện độ khắp chúng sanh

Quán tự tại viên thông trí hạnh

Thí vô uý quảng đại lợi sanh.

 

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán cuộc đời huyễn mộng phù vân

Sanh lão bệnh tử trầm luân khổ

Thân tứ đại thành trụ hoại không.

 

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán tội lỗi tạo tác nhiều đời

Tranh danh đoạt lợi tham tài sắc

Say đắm lắm rồi cũng hoàn không.

 

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán tiếng dội trầm thống lương tâm

Chí thành sám hối tiêu nghiệp chướng

Xin mọi người tha thứ lỗi lầm.

 

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán vô ngã tứ vô lượng tâm

Phá vô minh trở về bản tánh

Như Lai thị hiện ánh trăng rằm.

 

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán Cực lạc nguyện về Tây Phương

Quán hồng liên trái tim Tịnh Độ

Quán duy nhất một niệm Quán Âm.

 

Trí Lạc

 

tuvienquangduc_2

THIỀN MÔN GIẢI THOÁT

 

Nắng xuân hồng ấm lòng lữ khách

Theo lối xưa thanh thản tìm về

Mây trăng trắng một màu thanh bạch

Như tâm người vừa tỉnh cơn mê.

 

 

 

 

 

Phong sương ngàn dặm thân rã rời

Bôn ba lận đận trả nợ đời

Nợ đời trả mãi bao giờ hết

Xanh vàng khô rụng một kiếp người.

 

Cửa thiền môn chỉ có một cửa

Cửa thế gian lắm ngõ ra vào

Ngõ nào cũng in dấu khổ đau

Dấu tủi nhục bi thương uất hận.

 

Cửa thiền môn tuy chỉ một cửa

Nhưng chan hoà ánh sáng tình thương

Không phân biệt trắng đen thiện ác

Hoan hỷ tiếp nhận khách mười phương.

 

Cửa thiền môn dù chỉ một cửa

Nhưng rộng chứa đạo pháp nhiệm mầu

Đạo tỉnh thức sống đời giải thoát

Đạo dạy người tích đức tu tâm.

 

Lữ khách giờ quỳ dưới Phật đài

Thành tâm ngắm tượng Đức Bổn Sư

Sóng gió gian truân thành quá khứ

Hiện tại là phẳng lặng bình an.

 

Trí Lạc

 

 
tuvienquangduc_12

Thốt Nhiên An Lạc Thong Dong

 

Tay vung kiếm vạch ngang trời

Một đường Phong Nguyệt tuyệt vời

Hoài bão của thời thanh thiếu

Gởi vào chiêu kiếm tặng đời

 

Tay phóng bút thảo vần thơ

Mây xanh núi biếc trời mơ

Em đi hoa thơm cỏ lạ

Anh về ong bướm ngẩn ngơ.

 

Tay hứng cánh hoa vừa rụng

Đỏ hồng giọt máu tình chung

Nhớ trăng thu đêm ly biệt

Bóng ai huyễn hoặc mông lung.

 

 

 

Tay nâng ly rượu ngà ngà

Ngâm nga khúc Chánh Khí Ca

Bao la hồn thiêng sông núi

Ào ào gió hú mưa sa.

 

 

Tay lần từng trang Phật pháp

Bát Nhã rộng mở thênh thang

Qua rồi si mê cuồng vọng

Hết rồi mộng mị thương đau.

 

Hai tay chắp búp sen lòng

Nhiệm mầu bổn tánh chân không

Soi suốt mười phương vạn pháp

Thốt nhiên an lạc thong dong.

 

Trí Lạc

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 13576)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 15291)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 13852)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13719)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25242)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52390)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16627)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 12034)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19722)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 14281)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,