Hiểu và Thương (thơ)

15/06/202318:39(Xem: 8821)
Hiểu và Thương (thơ)


canh dep-19

Hiểu và Thương.

Khi sinh ra là chúng ta bắt đầu cuộc hành trình đi đến nấm mồ của chính mình. Chúng ta thường lãng quên một điều rằng mỗi người có mặt trên thế gian này để sống – để trưởng thành, nghĩa là đi sâu vào bản thân mình chứ không chỉ bước theo bước thời gian đến cõi hư vô….mà phải chiêm nghiệm được rằng:


Hiểu THAM, SÂN, SI là căn nguyên cội rễ!
Dù mang danh khanh tướng hiền tài
Khi ra đi đều về cát bụi …chẳng trừ ai
Nếu chưa đoạn trừ được…vẫn hoen ố tâm thức!

Hiểu còn sanh khởi tam độc đó
…..cháy cả rừng công đức !
Mỗi đời người cho dẫu sống trăm năm
Còn vướng ngũ dục trong giới hạn thời gian
Giờ phút cuối thất vọng,
……vẫn chưa đạt điều mình muốn!

Hiểu rằng mục đích đời người…
Phải giải được bài toán trong mọi tình huống!
Học cách nhìn người để giúp đỡ và thương
Hãy cho qua điều bất toại nhiễu nhương
Giá trị con người, sức mạnh nội tại ..phần thưởng!

Nghiệp lực luân hồi do bản ngã ảo tưởng
Trao nhau cành nhân ái với đối tượng tiếp giao
Vấn đề ngày hôm qua …sẽ phai nhạt thật mau
Nếu ý thức cuộc đời …chỉ là huyễn hoá.

Học Đạo là học về tự ngã và quên đi tự ngã!
Cảm nhận sự sống hiện tại gá hợp bởi Duyên
Thương, cảm thông nhau vượt bao nỗi ưu phiền
Hãy góp một bàn tay giúp người đạt hoài bão!

Nguyện cầu người về bến …đều như dòng suối cả!
Êm đềm trôi chảy về chốn thanh bình
Buông thả toàn diện…nhìn ánh nắng lung linh
Cát bụi còn lại trải qua vô lượng kiếp
…….Vẫn hiện hữu với cùng tạo hoá !!

Huệ Hương



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/08/2010(Xem: 16803)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 17088)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 15834)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.
12/08/2010(Xem: 14943)
Nằm ngủ ôm vầng trăng Đồi Cù nghiêng nghiêng mộng Đà Lạt chảy trong thân Tôi như rừng thông im bóng. Em như sương trăng áo mộng Đêm thu xưa quyến hớp hồn tôi.
04/08/2010(Xem: 16093)
Để hướng về Mùa Hiếu Hạnh Thiêng Liêng Để tưởng nhớ công ơn Công Đức Sinh Thành Để cùng nhau nhắc nhở Con Hiền Cháu Thảo Để đền đáp trong muôn một công đức Cha Mẹ Và lễ tạ Thù Ân Bốn Ơn Trọng cưu mang. Chúng tôi xin viết, cảm ơn quý vị đón nhận và phổ biến. Trân trọng, TNT Mặc Giang [email protected]
04/08/2010(Xem: 14755)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 16506)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 15077)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 14973)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 27023)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.