Đề Chùa Gia Lâm (thơ)

10/01/202313:13(Xem: 6956)
Đề Chùa Gia Lâm (thơ)

canh dep-125
題嘉林寺

心灰蝸角夢,
步履到禪堂。
春晚花容薄,
林幽蟬韻長。
雨收天一碧,
池凈月分涼。
客去僧無語,
松花滿地香。
陳 光 朝

Phiên âm:
Đề Gia Lâm tự
Tâm hôi oa giác mộng,
Bộ lý đáo thiền đường.
Xuân vãn hoa dung bạc,
Lâm u thiền vận trường.
Vũ thu thiên nhất bích,
Trì tịnh nguyệt phân lương.
Khách khứ tăng vô ngữ,
Tùng hoa mãn địa hương.
Trần Quang Triều (*)

canh dep-127


Dịch thơ:
Đề Chùa Gia Lâm
Bước chân về cửa Phật
Lòng nhẹ mộng mơ tan
Xuân đi màu hoa bạc
Rừng vắng tiếng ve ngân
Mưa tạnh trời xanh ngắt
Ao lặng bóng trăng ngần
Khách về Tăng không nói
Hoa tùng thơm ngát sân
Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (Phỏng dịch)
長安懷古
河岳終存故國非,
數行陵柏背斜暉。
舊時王氣埋秋草,
暮雨蕭蕭野蝶飛。
陳 光 朝
Phiên âm:
Trường An hoài cổ
Hà nhạc chung tồn cố quốc phi,
Sổ hàng lăng bách bối tà huy.
Cựu thời vương khí mai thu thảo,
Mộ vũ tiêu tiêu dã điệp phi.
Trần Quang Triều
Dịch thơ:
Truong An Hoài Cổ
Sông núi còn đây cố quốc đâu?!
Đôi hàng bách núi nắng phai màu
Thuở xưa vương khí vùi chôn cỏ
Hiu hắt mưa chiều bướm lượn chao
Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (Phỏng dịch)


***


(*) Trần Quang Triều nguyên quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường; nay thuộc tỉnh Nam Định. Ông là con trai cả Hưng Nhượng đại vương Trần Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, và là em trai của Bảo Từ Thuận Thánh hoàng hậu, chính thê của Trần Anh Tông. Thuộc dòng dõi quý tộc, hơn nữa lại là dòng dõi Trần Hưng Đạo nên ông được biệt đãi.
Năm Hưng Long thứ 9 (1301), tháng 4, khi mới 14 tuổi, ông được vua Trần Anh Tông phong tước Văn Huệ vương (文惠王)[3][4], và sau đó được làm quan tại triều.
Ông là người văn võ toàn tài, nhưng không ham phú quý. Khi vợ ông là Thượng Trân công chúa (上珍公主) qua đời, ông về tu [note 1] ở Bích Động am, thuộc huyện Đông Triều và lập ra Bích Động thi xã (碧洞诗社) để cùng xướng họa với các bạn thơ, như Nguyễn Sưởng, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Ức, Tự Lạc tiên sinh,...
Năm Khai Thái nguyên niên (1324), dưới triều Trần Minh Tông, Trần Quang Triều được triệu ra gánh vác việc nước. Ông giữ chức Nhập nội kiểm hiệu Tư đồ. Tháng 8 năm Khang Thái thứ 2 (1325), Văn Huệ vương Quang Triều mất[7][8], và ông chỉ ở khoảng 38 tuổi. Không có ghi chép về hậu duệ của ông.
Căn cứ bài thơ "Tống Cúc Đường chủ nhân chinh Thích Na" (Tiễn Cúc Đường chủ nhân đi đánh Thích Na) của Nguyễn Ức, thì khi đang chức, Tư đồ Trần Quang Triều đã từng cầm quân đi đánh Thích Na[9].
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/03/2014(Xem: 21395)
Nếu ai có đến Melbourne nhớ về Quảng Đức ghé thăm chùa mình Ngôi chùa ấm cúng chân tình Mang tên Bồ Tát thiêu mình hy sinh
21/03/2014(Xem: 18490)
Quảng Đức Tu viện chúng ta Mệnh danh bốn chữ Tuyết Trồng Sen Hoa Sen trồng trên tuyết khó đà Giữ sen tươi thắm mới là khó hơn Ai ơi biết nghĩa nhớ ơn
20/03/2014(Xem: 38420)
Khi được tuệ giác vô thượng Bản thân rực sáng muôn phương thế giới Ba mươi hai tướng sáng ngời Tám mươi vẽ đẹp, mọi người giống con.
20/03/2014(Xem: 23148)
Mùa Xuân, Thơ ngát trầm hương Dâng lời tôn kính cúng dường Như Lai Hương Từ Bi, Ánh Dương ngời Cho Đời nhân ái, cho Người sống vui Xuân Hoan Hỷ đến muôn loài
19/03/2014(Xem: 27631)
Mẹ Hiền Nam Hải Quan Âm Xót thương sanh chúng giáng lâm tại trần Ngai vàng Mẹ cũng chẳng cần Đi tu theo Phật cứu lần chúng sanh Hôm nay mừng Mẹ đản sanh Con hiền quỳ xuống lòng thành kính dâng
18/03/2014(Xem: 24470)
Trong văn học Trung Hoa, từ thời đại xa xưa, Chu Hy cho rằng “nhân chi sơ tính bản tĩnh”. Từ “bản tĩnh”, do cảm xúc của dục tính mà “tĩnh” chuyển sang “động”. Và một khi tâm đã động thì trí sẽ vận dụng đến suy tư, khi đã suy tư thì phải thốt lên bằng tiếng nói.
18/03/2014(Xem: 16414)
Bạch hạc ẩn tàng làn sương mỏng Dạo bước rừng sâu sư tử hống Tịch mịch hề! mây hay mộng Gió rót thơ tràn suốt thiên niên.
17/03/2014(Xem: 15756)
Biền biệt đường bay Mịt mờ dấu lặng Tiếng ai gào thống thiết giữa đau thương Ngước lên trời cao Mất hút dặm trường Nhìn xuống biển Bóng chim tăm cá
17/03/2014(Xem: 14211)
MƯA ĐÊM Mưa từng giọt rớt vào đêm đặc quánh Tiếng ếch kêu thảng thốt
16/03/2014(Xem: 21955)
Bạn ơi, Làm thiện nguyện đã có từ lâu đời trong tấm lòng của tổ tiên chúng ta: “Dù xây chín đợt phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một người.” Nó khởi đi từ tấm lòng thiện luơng vốn có của con người. “Nhân chi sơ tính bản thiện” Giống như Phật tánh.