Tết Đinh Dậu (thơ)

18/03/202117:09(Xem: 9152)
Tết Đinh Dậu (thơ)
hoa dao 2
Xướng:
 

Tết Đinh Dậu
 

Tết đi tết đến đã bao lần,
Chồng chất tuổi đời khổ cái thân, 
Đinh dậu trở về thêm tàn sức, 
Bính thân tạm biệt lại yếu chân. 
Tọa thiền bái sám lưng nhức mỏi, 
Niệm Phật trì kinh cẳng tê đần.
Vũ trụ xoay vần không ngừng nghỉ, 
Thu tàn đông đến lại sang xuân.

* **
Sang xuân thử nghiệm cuộc thế coi,
Đấm đá chi nhau chục năm trời, 
Đứa lớn u đầu, tâm bệnh hoạn, 
Nhóc con gãy cẳng, trí thụt lùi. 
Sức tàn lực tận đòi gánh núi,
Trí thiển ý cùn muốn úp voi.
Vẻ rắn thêm chân coi cũng chán, 
Mừng xuân Đinh dậu chẳng gì vui ?!
 

Mạnh xuân Đinh dậu, mồng Ba tết khai bút
HT.Thích Tín Nghĩa 
 

hoa dao 3
Hoạ:
 
Đông Qua Xuân Đến
Kính họa bài:”Tết Đinh Dậu” của HT. Thích Tín Nghĩa.
 


Đông qua xuân đến biết bao lần
Tuổi hạc càng cao luỵ tấm thân
Đi đứng khó khăn lao nhọc sức
Uống ăn ít ỏi nhức tê chân 
Trì kinh lễ Phật thân đau mỏi
Xướng kệ hô thiền giọng hụt khàn
Dẫu thế công phu không mệt nghỉ
Tinh cần nỗ lực đón mừng xuân.
 
Mừng xuân nguyệt hiện ngắm nhìn coi,
Vạn vật xanh tươi khắp đất trời
Nụ thắm mầm xanh, tai rũ sạch
Hoa thơm trái ngọt, dịch tan lùi
Thanh bình lạc xứ trăng soi núi 
Thịnh trị an dân mộng hiển voi(*)
Cúc nở hoa bừng vơi khổ chán
Phước tràn lộc trĩu đón xuân vui...!
 
California, 12:20 am, 15-03-2021
Hậu Học-Thích Chúc Hiền (kính họa)
————————
Chú thích:(*) Voi tượng trưng cho điềm lành, chiêu tài đón lộc, bảo vệ bình an giúp công việc hanh thông và phát triển....
 


hoa dao

Xuân và Đạo
(Kính hoạ vận)
 
Tết đến thời qua lại mệt thân
Đời nầy gặp đạo khó không chần
Dù trong ngõ hẹp cùng vươn sức
Dẫu phải đường dài cố bước chân
Tiết mới ngày lên lưng cứ mỏi
Kinh huyền pháp khởi trí nào trân
Đâu vì tứ đại suy mà chán
Vạn chuyện quay đều vẫn tiếp xuân.
 
Tiếp xuân lộc biếc vạn người coi
Rạng rỡ bình yên khắp đất trời
Hạnh phúc nhân gian… nương đạo học
Tai ương cõi thế …để thù lùi
Ân Thầy hoá độ cao hơn núi (*)
Pháp Phổ khai truyền diệu tựa voi (**)
Bởi sợ trầm luân đâu dám nghỉ
Đường về cực lạc trải niềm vui…
 
16/3/2021
PT. Minh Đạo (Kính hoạ)
--------------------------
 
(*) Thầy (Một trong mười danh hiệu Phật)
(*) Núi: Núi Tu Di chỉ là một biểu tượng, tượng trưng cho sự to lớn, vĩ đại. Cũng như trong kinh Phật hay dùng thuật ngữ cát sông Hằng
(**) Con Voi trắng mà Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi là để biểu hiện lòng đại từ. Sáu ngà Voi biểu hiện cho “lục độ” (6 phương pháp đến bờ bên kia để giải thoát sinh tử luân hồi, gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ).
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/03/2014(Xem: 17848)
Chúng ta đều đã lên tàu Thời gian không định biết về đâu, Ga cuối cuộc đời tất phải đến Bây giờ còn sống hay thương nhau...
26/03/2014(Xem: 17301)
Chuyến Tàu Định Mệnh Chào đời là đã lên tàu Chuyến tàu định mệnh biết về đâu? Qua bao ghềnh thác bao đồi núi Người lên kẻ xuống bến ga nào!
23/03/2014(Xem: 40850)
Một thường lễ kính chư Phật Lễ Phật, tâm Phật dung Phật tuệ sanh Kính Phật phước đức an lành Nguyện làm Bồ Tát dưới chân Phật đài.
22/03/2014(Xem: 16507)
Tiếng Chuông (thơ) Thích Tánh Tuệ
21/03/2014(Xem: 21449)
Nếu ai có đến Melbourne nhớ về Quảng Đức ghé thăm chùa mình Ngôi chùa ấm cúng chân tình Mang tên Bồ Tát thiêu mình hy sinh
21/03/2014(Xem: 18557)
Quảng Đức Tu viện chúng ta Mệnh danh bốn chữ Tuyết Trồng Sen Hoa Sen trồng trên tuyết khó đà Giữ sen tươi thắm mới là khó hơn Ai ơi biết nghĩa nhớ ơn
20/03/2014(Xem: 38497)
Khi được tuệ giác vô thượng Bản thân rực sáng muôn phương thế giới Ba mươi hai tướng sáng ngời Tám mươi vẽ đẹp, mọi người giống con.
20/03/2014(Xem: 23194)
Mùa Xuân, Thơ ngát trầm hương Dâng lời tôn kính cúng dường Như Lai Hương Từ Bi, Ánh Dương ngời Cho Đời nhân ái, cho Người sống vui Xuân Hoan Hỷ đến muôn loài
19/03/2014(Xem: 27655)
Mẹ Hiền Nam Hải Quan Âm Xót thương sanh chúng giáng lâm tại trần Ngai vàng Mẹ cũng chẳng cần Đi tu theo Phật cứu lần chúng sanh Hôm nay mừng Mẹ đản sanh Con hiền quỳ xuống lòng thành kính dâng
18/03/2014(Xem: 24517)
Trong văn học Trung Hoa, từ thời đại xa xưa, Chu Hy cho rằng “nhân chi sơ tính bản tĩnh”. Từ “bản tĩnh”, do cảm xúc của dục tính mà “tĩnh” chuyển sang “động”. Và một khi tâm đã động thì trí sẽ vận dụng đến suy tư, khi đã suy tư thì phải thốt lên bằng tiếng nói.