Ngàn Năm Cảnh Phật (thơ)

06/09/202008:42(Xem: 9662)
Ngàn Năm Cảnh Phật (thơ)
Ngàn Năm Cảnh Phật.
buddha-500













Hồng Trần dỡ khóc cười khan,

Mang thân tứ đại, giữa ngàn tình duyên.
Hợp thân gá chủng bao niềm,
Dù Nam Hay Nữ, Đức hiền trọng thay.

Có người dựng vợ chồng say,
Có người mang kiếp, duyên này xuất gia.
Có người nghèo kiếp bôn ba,
Có người chức tước, xông pha thương trường.

Có người duyên nợ muôn phương,
Có người tình lẻ, dở nương diếm phòng.
Có người bạc mệnh nhan Hồng,
Có người ôm bụng, không chồng thêm con.

Có người danh vị tham lon,
Có người mưa nắng, mỏi mòn cong lưng.
Có người xa xứ lao lung,
Có người ngồi kiệu, nệm nhung gấm vàng.

Có người tù tội khung trang,
Có người thất học, làm càng tuý ma.
Có người xe cộ nõn nà,
Có người hầu cận, trong nhà trăm nhân.

Bao nhiêu kiếp sống xa gần,
Ôm đời mộng cảnh, huyễn thân đời tàn.
Sống và chết thật mênh mang,
Hủ tro nấm cốt, bụi màng tro xương.

Người duyên Phước được tình thương,
Người có mồ mã, khói hương trọn đời,
Người thì mộ rậm cỏ phơi,
Người thì lạc mộ, thác rời tự do.

Người thì con cháu chăm lo,
Gởi chùa hủ cốt, chẳng mò ngó nghiêng.
Phước duyên cũng tại ở hiền,
Kém duyên bạc Phước, chẳng liền quan tâm.

Ôi đời có trước tấm thân,
Cùng chung gò mã, lúc gần lúc xa.
Chút tình cõng kiếp mẹ cha.
Neo đơn nương chốn, thiền gia tu trì.

Nụ cười từ giã lối đi,
Trăm năm kiếp sống, những gì hôm mai.
Gói tình giã biệt Trần ai,
Bụi tro thân tạm, biển Hoài âm bi.

Duyên tình tụng niệm A Di,
Kỳ Quang cảnh tịnh, cốt thì nương tâm.
Bụi tàn hương khói nghi tầm,
Ngàn năm cảnh Phật, chuyên cần hương linh.

Hỡi hương vong chốn lời kinh,
Hỡi người buôn xã, đăng trình trời Tây.
Noi gương Hiếu Mục liên Thầy,
Thiện Chiếu Quán xét, Tâm này thứ tha.

Cả đời phụng sự Ta bà,
Nuôi người cơ nhỡ, chẳng hà thở than.
Y vàng tụng niệm khua vang,
Cười tang mộng ảo, thênh thang lối về.

Trụ trì bề bộn nhiêu Khê,
Thôi thì Ngài xã, thoát mê ngàn hình.
Ta tìm bóng dáng chính mình,
Ngồi yên tịch lặng, soi nghìn cõi Tâm.

                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 05-09-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 18-07-Canh Tý.
Chúng con kính dâng lên Hoà Thượng Viện chủ Chùa Kỳ Quang-Quận gò vấp-Tphcm.

Ngàn Năm Cảnh Phật-1
Ngàn Năm Cảnh Phật-2
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/08/2010(Xem: 17351)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 17544)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 16016)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.
12/08/2010(Xem: 15142)
Nằm ngủ ôm vầng trăng Đồi Cù nghiêng nghiêng mộng Đà Lạt chảy trong thân Tôi như rừng thông im bóng. Em như sương trăng áo mộng Đêm thu xưa quyến hớp hồn tôi.
04/08/2010(Xem: 16179)
Để hướng về Mùa Hiếu Hạnh Thiêng Liêng Để tưởng nhớ công ơn Công Đức Sinh Thành Để cùng nhau nhắc nhở Con Hiền Cháu Thảo Để đền đáp trong muôn một công đức Cha Mẹ Và lễ tạ Thù Ân Bốn Ơn Trọng cưu mang. Chúng tôi xin viết, cảm ơn quý vị đón nhận và phổ biến. Trân trọng, TNT Mặc Giang [email protected]
04/08/2010(Xem: 14836)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 16597)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 15169)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 15170)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 27233)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.