Thức Tỉnh (thơ)

19/08/202011:48(Xem: 11189)
Thức Tỉnh (thơ)
ngoi thien-3

Thức Tỉnh

Một kiếp nhân sinh, một kiếp sầu.
Vô thường có hẹn với ai đâu!
Đã chưa tát cạn sông phiền não,
Thì vẫn xoay vòng bể khổ đau!
Bởi chẳng nhân lành từ kiếp trước,
Nên không quả ngọt ở ngày sau.
Nhất tâm thường niệm Di Đà Phật,
Mới thấy vô biên lẽ nhiệm mầu!
Kha Tiệm Ly


ngoi thien-2
Họa:
Nhân Quả
Đời người vốn dĩ lắm ưu sầu
Được mất hơn thua chẳng thấm đâu
Bận bịu lo toan thêm khổ não
Thanh nhàn thư thả bớt phiền đau
Do vì bỏn xẻn nơi đời trước
Bởi thế trầm luân ở kiếp sau
Muốn thoát sầu đau qua bến giác
Thường nương diệu pháp niệm kinh mầu!

California, 14-08-2020
Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (cảm hoạ)


ngoi thien
TỈNH THỨC
Trần gian đã đến lắm ưu sầu,
Mãi chịu thăng trầm… khổ hỏi đâu?
Bởi cứ tham cầu nên áo não,
Vì còn vướng mắc trải buồn đau.
Ai hay những họa ngàn năm trước!
Cũng sợ bao thù vạn kiếp sau?
Thấy rõ mê mờ nương pháp Phật,
Ngày lên niệm chánh … tụng kinh mầu.

15/8/2020
Minh Đạo (Cảm họa)



ngoi thien

Thức Tỉnh


Khắp nẻo, nhân sinh vạn nỗi sầu
Bình tâm quán chiếu bởi vì đâu?
Vô minh, căn bản gây sầu não
Móc xích nhân duyên buộc khổ đau.
Xoay chuyển luân hồi bao kiếp trước
Nguyện mong cắt đứt chẳng còn sau.
Di Đà lục tự Hồng danh Phật
Niệm mãi đến khi tỏa đạo mầu.



Melbourne 20/8/2020
Thanh Phi (Cảm họa)
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/04/2014(Xem: 20152)
Kính mừng Đại lễ VESAK Phật lịch 2558 Do Tổ chức Văn Hóa Giáo Dục Liên Hiệp Quốc tỗ chức tại Việt Nam Ngày Phật Đản ngày người được sống Từng phút giây thanh tịnh bình yên Từng hơi thở trời xanh cao rộng Tự thân mình giới thể trang nghiêm.
13/04/2014(Xem: 26931)
Hôm nay Phật Đản trở về Ta Bà hiện cảnh hoàng quê năm nào Từ trời Đâu Xuất trên cao Hộ Minh Bồ Tát nguyện vào Phật (ứng) thân. Ma Gia mộng ứng điềm lành Voi ngà sáu chiếc hóa sanh Thánh hiền Bảy đóa sen quý kim liên Ưu đàm một đóa Thánh hiền Đản sanh.
13/04/2014(Xem: 15293)
Hai chiếc bình trống rỗng Một đậy nắp một không Thả hai bình xuống biển Một chiếc nổi bềnh bồng
13/04/2014(Xem: 14329)
Có khi nào gió hỏi Gió thổi từ phương nao Có khi nào đá hỏi Đá có tự thuở nào Có khi nào sông hỏi Nước từ đâu chảy về Có khi nào trăng hỏi Đêm sao dài lê thê
12/04/2014(Xem: 46046)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây
09/04/2014(Xem: 15900)
Có Xuân nào, Không mai vàng trước ngõ Không câu đối giao mùa, Tỉnh thức – Xuân từ đó… Giọt sương trong – Phật Thừa !
31/03/2014(Xem: 16383)
đám mây đi qua dòng sông tôi mất bóng và tôi vỡ ra dập dềnh trôi xác ma quá khứ tế bào óc tim tóe lên ánh lửa bập bùng bên này leo lét bên kia bít bùng thế giới đa tri đường ngược đường xiên
29/03/2014(Xem: 14681)
Đi tu chẳng phải trốn đời Đi tu cốt để chuyển dời tánh, tâm. Đi tu chẳng mộ tiếng tăm Đi tu chỉ để âm thầm Độ, Tha (*) Đi tu thức giấc Nam Kha Đi tu để thoát Ái hà mênh mông .
29/03/2014(Xem: 24924)
Trời đất mênh mang sương khói, một thời thơ trẻ dại, bàng bạc nắng quái u buồn nơi quê nhà giữa hai đầu biển núi lung linh. Sinh năm 1952 ở Quán Rường, Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, một chốn miền “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” ấy, Nguyễn Lương Vỵ lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học. Từ thuở nhỏ vốn bẩm sinh có năng khiếu làm thơ, đặc biệt được ông nội ( nguyên là một nhà Nho, có thời kỳ làm chánh tổng ) trực tiếp truyền dạy các loại thơ tứ tuyệt, Đường luật, nên biết mần thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thuở còn chạy rông chơi bên mấy cổ tháp rêu phong Chiên Đàn, cạnh dòng sông Tam Kỳ và bãi biển Tam Thanh xanh biếc mộng.
26/03/2014(Xem: 14899)
Sen kinh Phật Loài hoa tiết hạnh dị thường Đêm đêm giữ ngọc, gìn hương cho đời Trinh nguyên lay động đất trời Thơm câu kinh Phật, ngát lời ca dao.