Phẩm 02: Không Phóng Dật

14/08/202014:07(Xem: 14183)
Phẩm 02: Không Phóng Dật
buddha-500 


KINH PH
ÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

 

Lưu ý:

Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),

Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)

 

PHẨM KHÔNG PHÓNG DT 2




21. "Không phóng dật, đường sng,

Phóng dt là đường chết.

Không phóng dật, không chết,

Phóng dt như chết rồi



21/ Con đường sinh tử nổi trôi

Đều do phóng dt xa rời tánh linh,

Không buông lung thoát tsinh

Sống mà phóng dt thây sình tháng năm.



22. "Biết rõ sai biệt ấy,

Người trí không phóng dật,

Hoan hỷ, không phóng dật,

An vui hạnh bc Thánh."

 

22/ Biết rõ nguồn gốc thăng trầm

An vui người trí kềm tâm ý mình,

Hoan hỉ trong cõi Thánh minh

Do không phóng dật sóng tình lng yên.



23. "Người hằng tu thiền định,

Thường kiên trì tinh tấn.

Bậc trí hưởng Niết Bàn,

Ách an tnh vô thượng.



23/ Chuyên tu thiền định diệu huyền

Khai nguồn trí tuệ nhp min vô dư,

Tinh cn quán chiếu văn tư,

Người trí tự tại an cư Niết bàn.



24. "Nỗ lực, giữ chánh niệm,

Tịnh hnh, hành thận trọng

Tự điều, sống theo pháp,

Ai sống không phóng dật,

Tiếng lành ngày tăng trưởng.”



24/ Con đường Bát chánh thênh thang

Mỗi ngày tnh thức tâm an, ý hoà,

Sống phạm hạnh, không bôn ba

Vườn tâm hoa tuệ lan xa hương người.



25. "Nỗ lực, không phóng dật,

Tự điều, khéo chế ngự.

Bậc trí xây hòn đảo,

Nước lụt khó ngập tràn."



25/ Cho dù bão lũ cuốn trôi

Nhưng hải đảo vng một ngôi bảo toà.

Khéo điều ngự giữa phong ba

An nhiên, vững chải xứng là hiền nhân.



26. "Chúng ngu si thiếu trí,

Chuyên sống đời phóng dật.

Người trí, không phóng dật,

Như giữ tài sản quý."

 

26/ Khác xa knhim phong trần

Si mê đắm trước, luthân hại đời.

Người trí quyết chng buông lơi

Giữ gìn báu vật rạng ngời niềm tin.



27. "Chớ sống đời phóng dật,

Chớ mê say dc lạc.

Không phóng dt, thiền định,

Đạt được an lc lớn."



27/ Trần gian bảy nổi ba chìm

Ngựa hoang rong rui phải tìm lối ra.

Hỷ lạc, thiền định u xa

Thiền sư an dưỡng thăng hoa pháp màu.



28. "Người trí dẹp phóng dật,

Với hạnh không phóng dật,

Leo lu cao trí tuệ,

Không su, nhìn khổ sầu,

Bậc trí đứng núi cao,

Nhìn kẻ ngu, đất bằng.”



28/ Như lên tận đỉnh non cao

Người trí nhìn xung xôn xao bụi trần,

Chúng mê tham chp tm thân

Buông lung thoả dục là nhân khổ sầu.

Hiền Thánh như ánh trăng sao

Thương quần sanh mãi một màu vô minh.



29. "Tinh cần gia phóng dật,

Tỉnh thc gia quần mê.

Người trí như ngựa phi,

Bỏ sau con ngựa hèn."



29/ Dù trong gia chốn hữu tình

Như con tuấn mã hành trình không ngơi.

Bỏ sau lãng trong chơi

Xóm làng say ngủ, sống đời tự do.



30. "Đế Thích không phóng dật,

Đạt ngôi vị Thiên chủ.

Không phóng dật, được khen;

Phóng dt, thường bị trách.”



30/ Đạt ngôi Thiên chai cho

Nhờ sức tinh tn vượt bờ thế gian.

n dương hnh đức muôn ngàn

Đáng chê trách kẻ, giữa đàng buông lơi.



31. "Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Bước tới như lửa hừng,

Thiêu kiết sử lớn nhỏ."

 

31/ Một khi phát chí đại hùng

Giới đủ đã th, buông lung xa lìa.

Như ngọn la cháy hừng kia

Đốt tan ràng buộc râu ria thế trần.



32. "Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Không thể bị thối đọa,

Nhất định gn Niết Bàn."



32/ Đã làm Khất sĩ khinh thân

Vẫn sợ phóng dt , là nhân đoạ đày

Sống trong tnh cnh vui thay!

Trăng thanh gió t tháng ngày thong dong.



***
Tu Viện Quảng Đức Youtube Channel

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/09/2020(Xem: 10242)
Từ đây giã biệt phố phường Tôi về chốn cũ mộng thường trăm năm Chùa xưa không chút tiếng tăm Nên chi cứ thế trăng rằm nguyên sơ
25/09/2020(Xem: 16870)
Tuyển tập Thơ Hành Hương Phật Giáo Trung Quốc (thơ)
24/09/2020(Xem: 10210)
Trong ngôi thiền viện thuở xưa Đứng đầu là một thiền sư lâu đời Lìa trần tuổi chín mươi hai Danh ngài viện chủ khó ai sánh cùng, Ngài gìn giữ để không vương Không hề mắc chuyện tầm thường thế nhân.
24/09/2020(Xem: 9969)
Ở bên sườn núi thuở xưa Có ngôi chùa nhỏ với sư rất già Lông mày sư tựa tuyết pha Chòm râu cước trắng mượt mà đẹp thay,
24/09/2020(Xem: 14142)
Năm 1984. Tôi cùng bào đệ Út Bình, và Kỳ Thanh, một người em, đạo hữu, rất thân ở Ấp 5 xã Bàu Cạn (Huyện Long Thành- Đồng Nai) đèo nhau trên một chiếc xe đạp thồ, vượt đường xa về đến thị trấn, vào một Rạp Chiếu Bóng để dự phiên tòa xử một "tổ chức phản cách mạng", nghe tòa tuyên xử vắng mặt 2 bị cáo trong tổ chức đó vốn là các bào huynh của mình.
24/09/2020(Xem: 13258)
Thật là một đại duyên cho những ai là Phật tử tại gia như tôi lại được nghe lời chỉ dạy vừa tâm tình của Sư Phụ Viên Minh vào ngày thứ bảy của khoá thiền khoá 20 (20/9/2020) tại tổ đình Bửu Long như sau : " Ai cũng cho Thầy là người " ba phải "vì Thầy thường trích dẫn những ý tưởng của các Tông phái khác , nhưng đúng ra phải gọi Thầy là "người chục phải "vì ở mỗi Tông phái nào Thầy đều nhìn thấy những điểm hay, tốt và vì vậy Thầy chưa bao giờ phân biệt tông phái nào cả chỉ là nhập gia tuỳ tục thế thôi , vô ngại ...
23/09/2020(Xem: 13043)
Xa xăm lặng bước nhập trần ai Óng mượt mi vàng lộ hiển dài Xóm Bắc ruổi rong chui bụng ngựa Nhà Đông lơ láo rúc lừa thai Roi vàng thúc vế trâu bùn chạy Dây sắt gìn hàm cọp đá hồi Một sớm gió lùa băng giá hết Trăm hoa vẫn cũ luyến xuân đài!
22/09/2020(Xem: 19033)
Con thường suy nghĩ có một ngày Mẹ về với Phật cảnh Phương Tây Để nghe giáo pháp Như Lai thuyết Tỏ ngộ từ đây ở nơi này.
21/09/2020(Xem: 22427)
Một trong những điểm đặc thù từ giáo pháp của Đức Phật chính là tinh thần Trung đạo - không rơi vào cực đoan khổ hạnh ép xác hay thú hướng dục vọng. Biện chính giáo pháp để làm lộ rõ con đường Trung đạo cũng là một phương thức hoằng pháp. Có thể sự biện chính chỉ là quan kiến cá nhân và đôi khi đi xa hơn vấn đề cần biện chính, nhất là những biện chính liên quan đến lát cắt của một phần tổng thể văn bản. Dẫu vậy, toàn bộ nội dung bài viết vẫn hướng đến mục đích làm sáng tỏ thêm con đường Trung đạo, tránh sự hiểu nhầm đáng tiếc đối với những Phật tử sơ cơ. Nguyệt San Giác Ngộ xin trân trọng giới thiệu bài viết đến với quý độc giả. NSGN Bài “Quan điểm của Phật giáo về vấn đề kinh tế” của Hòa thượng Tinh Vân (Phước Tâm dịch, Nguyệt san Giác Ngộ số 189, tháng 12-2011, trang 36), có một đoạn viết: