Dấu chấm than (thơ)

05/09/201906:26(Xem: 13563)
Dấu chấm than (thơ)
be lu chuoi

DẤU CHẤM THAN!

Quê LĐM đang dầm trong lũ lụt ,
Kính mời quý Thầy và Anh Chị xem thơ ,
Nếu được xin mời họa chia sẻ cùng miền lũ Ô Lâu

Lụt ơi! sao quá buông tuồng
Ngông nghênh sục sạo chẳng thương mái nghèo!
Thu gầy lạc dấu trăng treo
Trâu mơ lối cỏ, gà đeo bụi bờ


Tao nôi gieo giọng thẫn thờ
Thềm thơ nước vỗ chan bờ bể dâu
Rơm trôi quên tuổi dãi dầu
Lạnh tênh bếp củi phụ màu khói lam

 

Canh trường thảng tiếng ăn đêm
Bãi đồng bạc thếch vạc than não nùng
Khuya rắc hiên giọt rưng rưng
Lũ đi M cõng oằn lưng đoạn trường


Phù sa dạo bến vô thường
Đến, đi đày đọa quê hương chòng chành
Kiếm bè chuối thả lênh đênh
Xin mây gọi nước nghiêng nhanh tội làng...

 

Lũ đi mực đọng chấm than"!"...

Như Thị

 be lu chuoi-1



THẢ BÈ UỐNG RƯỢU!

Cứ thanh thản như mọi khi đón lũ

Tìm bè chuối thả lướt sóng rong chơi

Gọi anh em cùng nhau về uống rượu

Nước còn dâng cũng mặc kệ mây trời

 

Lũ đã chôn ruộng đồng đau hấp hối

Nhà cửa mình trôi chỉ biết ngồi trông

Nhìn thật sâu – nhân duyên đừng tiếc nuối

Tay trắng đến- ngoảy về trắng tay không

 

Dẫu chòng chành bè lay xin hãy uống

Ngà ngà say ta vỗ khúc Hồ Trường*

Cò vạc thung thăng liệng chao về đậu

Tan nhà chiền chiện đau réo mà thương

 

Mấy cây chuối bọn mình nương mùa lũ

Ly rượu này hớp cạn giữa mất còn

Phận rác rều ta người cùng tôm tép

Biết yêu thương khi ngày bủa hoàng hôn

 

Vẫy con sào như trường côn phá trận

Cưỡi chuối bè lách giữa cuộc bể dâu

Chẳng hề biết kết bè như bè lũ…

Vì thả bè này đôi lúc cứu nhau!

 

Lũ vô tư giọt rượu cũng vô tình

Chung sống bên người cuốc bẫm cày sâu

Như Thị

*Tựa bài thơ của Nguyễn Bá Trác

 

chùm ảnh LĐM 

be lu chuoi-3
Xin góp họa:

 
VIẾT TRONG MÙA BÃO LŨ
 
Thiên tai: HẠN-LỤT "một tuồng"
Đọa đầy dân chúng thảm thương kiếp nghèo!
Cơ hàn vận bóng niêu treo
Đồng không mông quạnh hắt heo bãi bờ!
 
"Nước lụt cóc nhẩy bàn thờ"
Dân tình nháo nhác xác bờ ngô dâu!
Đèn khuya lụn bấc khô dầu
Quê làng ảm đạm úa mầu sương lam.
 
Long bong sóng vỗ mòn đêm
Vạc kêu sương rụng sầu thêm dạ nùng!
Lũ nhòa mắt mẹ lệ rưng
Gánh gồng sau lũ nai lưng,...can trường!
 
Đã từng địch họa xem thường
Thiên tai chi quản tai ương sóng chành
Ngợp trong bão lũ đấp đênh
Tình người chan chứa khơii xanh hồn làng
 
Lũ qua,ai gột lầm than?!
 
                               4-9-2019
 
                         Nguyễn Huy Khôi

 
be lu chuoi-1


LẦM THAN

(Kính họa bài Dấu Chấm Than của thi huynh Như Thị)

Đất trời sao lắm trò tuồng

Gây chi lũ lụt thảm thương dân nghèo

Ầm ầm ghế lắc giường treo

Hồn rơi theo nước vía đeo bên bờ

Lư hương kêu khóc bàn thờ

Gà heo quằn quại nép bờ ruộng dâu 

Nước nguồn đẩy trận mưa dầu

Đẩy luôn mơ ước trộn màu trời lam

Bơ vơ mấy cánh vạc đêm

Dõi theo tìm chút lửa than trà nùng

Gió gào lạc giọng rức rưng

Trăng sầu chết ngạt quày lưng hận trường 

Đất bằng sóng dậy bất thường 

Gia đình tan tác lửa hương banh chành

Dập dềnh nước nổi đềnh đênh

Một cơn trạo trực phá nhanh xóm làng 

         

Lầm than tiếp nối lầm than!

Phương Hoa - Sep 5th 2019









 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 13787)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13350)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25137)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52182)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16204)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11614)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19291)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 13856)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 18629)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 17402)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)