Sống với nụ cười

09/03/201917:07(Xem: 19945)
Sống với nụ cười

 ducphathoasen

 

   Namo Buddhaya

 Tại trời sinh như vậy! 

 

Ông phú hộ kia có 2 người con rể.

Con rể cả tên Nho Thông là người thạo chữ nho.

Con rể thứ hai tên Chất Phác là một anh nông dân cần cù.

Một hôm muốn thử tài 2 con rể, phú hộ bèn bảo 2 người con rể

 đi thăm ruộng với ông. Đi một đỗi gặp bầy vịt đương lội dưới ao,

 ông chỉ bầy vịt rồi hỏi 2 người con rể :

 

- Tại sao con vịt lại nổi được trên mặt nước ?

Anh Nho Thông trả lời:

- Đa mao thiểu nhục tắc phù

 (lông nhiều thịt ít thì nổi)

 

Còn anh Chất Phác thì vắn tắt:

- Tại trời sinh ra như vậy.

 

Ông phú hộ tỏ ý khen ngợi Nho Thông là người có kiến thức.

Chất Phác không được khen, vẻ mặt kém vui.

 

Lại đi một đỗi nữa thấy cặp ngỗng đang kêu lớn. Ông phú hộ 

bèn hỏi: - Con ngỗng, tại sao tiếng kêu của nó lớn như vậy ?

Anh Nho Thông trả lời:

- Trường cảnh tắc đại thanh 

(cổ dài thì tiếng kêu lớn)

 

Còn anh Chất Phác lại vắn tắt:

- Tại trời sinh ra như vậy.

Ông phú hộ lại gật gù:

- Thằng cả có lý

 

Chất Phác nghe khen như vậy mặt điềm nhiên.

 

Lại đi một đỗi nữa thấy một tảng đá lớn bị nứt ra làm hai. 

Ông phú hộ lại hỏi:

- Tảng đá không ai đánh, tại sao lại nứt ra ?

Anh Nho Thông trả lời:

- Phi thiên đã tắc nhơn đã.

 (không phải trời đánh thì người đánh)

 

Anh Chất Phác cũng lại vắn tắt:

- Tại trời sinh ra như vậy.

Lần này ông phú hộ lại nức nở khen Nho Thông trả lời 

rất thông tình đạt lý và chê Chất Phác kém hiểu biết.

 

Chất Phác khoan thai, chậm rãi trả lời:

 

- Này này, cái gì “Đa mao thiểu nhục tắc phù”, vậy chớ 

chiếc ghe có lông lá gì đâu mà cũng nổi trên mặt nước ?

 

Cái gì “Trường cảnh tắc đại thanh”, vậy chớ con ểnh ương 

cổ cụt ngủn mà sao vẫn kêu lớn ?

Cái gì “Phi thiên đã tắc nhơn đã”, vậy chớ cái..  của vợ tui có 

ai đánh đâu mà nó cũng luôn miệng la hét chí chóe tối ngày?

 

Ông phú hộ gật gù: “ Ừ nhỉ, vợ tao cũng thế! 

Thằng này mít đặc nhưng nói cũng có lý. 

Giờ thì tao chịu mày rồi!!”

 

BÌNH :

 

Trong kinh Pháp Hoa có câu: ''Chư Pháp tùng bổn lai. 

Thường tự tịch diệt tướng.''

(Các Pháp từ xưa nay, tướng thường tự vắng lặng)

- Mọi thứ chúng ta nghe chỉ là khái niệm, chưa phải là thực tại

- Mọi thứ chúng ta thấy ''nhuộm màu'' quan điểm cá nhân,

 chưa chắc là Sự Thật.

Con người đặt tên cho sự sự vật vật rồi gây phức tạp vấn đề, 

chứ các Pháp xưa chừ tự chúng đâu có '' vỗ ngực xưng tên ''?

 

- Cái thấy của Thức vốn đa sự nên chìm trong thế giới 

khái niệm và sinh diệt

Cái nhìn của Trí vốn rỗng lặng nên sáng ngời nên

bât biến giữa diệt sinh...

 

biasachannhien_ttanhtue
Mô Phật- Xin giới thiệu Sách của Tánh Tuệ 

mới ''ra lò'' , xin mời bà con đọc ủng hộ 


Sống với nụ cười

 

Những lúc thân tâm mệt mỏi

Thật khó khăn nở nụ cười

Nhưng nếu nhoẻn môi cười được

Hoa lòng khô héo dần tươi!

 

Những lúc đời bạc như vôi

Bao thiệt thòi ta gánh chịu

Ngay đó, nếu biết mỉm cười

Xả buông tâm hồn nặng trĩu..

 

Cuộc đời ghét ghanh, đàm tiếu..

Đừng sống trong miệng người ta!

Nhẹ nhàng mỉm cười không nói

Nhìn áng mây trời lướt xa..

 

- Ai sống lỗi lầm với ta

Mỉm cười, lòng thêm độ lượng

Biết đây là cõi ta bà

Con người ưng gây nghiệp chướng!

 

Những lúc khổ đau, vất vưởng..

Cứ lạc quan một nụ cười.

Khi sống tốt theo điều thiện

Trời không tuyệt lộ con người!

 

- Hãy để tình thương lên ngôi

Ngày thêm nồng nàn nghĩa sống

Hồn như biển rộng bên đời

Nụ cười dưỡng nuôi hy vọng.

 

- Vẫn nghèo, nếu làm tổng thống

Mà luôn túng thiếu nụ cười.

Khổ đau kia là một chuyện

Ai cấm lòng mình vắng vui ?

 

Nụ cười điểm tô hạnh phúc

- Hôm nay bạn đã cười chưa?

Hay chăng miệng cười Ca Diếp

Còn nguyên, dù đã bao mùa...

 

Như Nhiên- 

Thích Tánh Tuệ

hoahuongduong_tttue
banhxephapluan_tttue


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/08/2010(Xem: 16786)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 17068)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 15812)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.
12/08/2010(Xem: 14930)
Nằm ngủ ôm vầng trăng Đồi Cù nghiêng nghiêng mộng Đà Lạt chảy trong thân Tôi như rừng thông im bóng. Em như sương trăng áo mộng Đêm thu xưa quyến hớp hồn tôi.
04/08/2010(Xem: 16088)
Để hướng về Mùa Hiếu Hạnh Thiêng Liêng Để tưởng nhớ công ơn Công Đức Sinh Thành Để cùng nhau nhắc nhở Con Hiền Cháu Thảo Để đền đáp trong muôn một công đức Cha Mẹ Và lễ tạ Thù Ân Bốn Ơn Trọng cưu mang. Chúng tôi xin viết, cảm ơn quý vị đón nhận và phổ biến. Trân trọng, TNT Mặc Giang [email protected]
04/08/2010(Xem: 14745)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 16495)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 15071)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 14965)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 27015)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.