Cao Đẹp Người Tu (thơ)

08/09/201817:05(Xem: 14435)
Cao Đẹp Người Tu (thơ)

khat thuc

CAO ĐẸP NGƯỜI TU
 
Trì bình khất thực hạnh Tăng Già (1)
Đệ tử truyền thừa Đức Thích Ca
Một bát ba y (2) hành chánh Pháp
Bát phong (3) tam độc chuyển thành hoa
Thong dong tự tại trên đường giác
Lận đận cứu mê thoát lửa nhà (4)
Pháp Ấn (5) cẩm nang hành Phật sự
Ta Bà Tịnh Độ vốn không xa (6)
 
Pháp Hoa – Nam Úc
Cuối Mùa Vu Lan - Mậu Tuất (2018)
Thích Viên Thành




Ghi Chú:

(1)   Khất thực hạnh của Tăng Già,
Trên cầu Phật đạo giác tha dân lành,
Ba y một bát tinh anh,
Diệt trừ ngã chấp, tịnh thanh cõi lòng,
Đơn giản không bệnh thong dong,
Gần gủi sanh chúng tiêu vong não phiền.
(2)   Tam y, nhất bát: Trong Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân, điều thứ bảy có ghi:…Thường niệm tam y, Ngoã bát pháp khí (tức là: Thường nhớ ba y, Pháp khí bình bát)…, vì đó là y phước điền, y giải thoát trong giới đức tinh nghiêm biểu hiện sự trang sức, là lễ phục đẹp nhất của người tu sĩ Phật giáo. Ngoài tấm yra, thì “bình bát” của Đức Phật được xem là bảo vật, là thọ mạng của Tăng Già, vì “bát” dùng để hàng ngày đi xin ăn nuôi sống thân mạng...Nên biểu tượng của việc "Truyền Tâm Ấn" cũng là truyền “Y Bát” tức là truyền pháp Y và Bát, gọi ngắn là "y bát".
(3)   Bát phong: Lợi, Suy, Vui, Khổ, Vinh, Nhục, Khen và Chê. tức là Tám Ngọn Gió làm ảnh hưởng, rối loạn tâm thần con người. Người Tu nên nhắc nhau: phải sống thật vững vàng, dù cho phải thường xuyên đối mặt với tám gió thổi mà không lay động (bát phong xuy bất động).
 Tam độc: Tham sân Si: 
là ba thứ ác độc mang đau khổ đến cho con người, phá hoại mọi hạnh phúc an vui của con người.
(4)   Nhà lửa: Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật ví Thế gian này như “nhà lửa”, nhưng chúng sanh đang đắm mê, vui chơi trong đó, để phải khổ lụy, nên Ngài phải dùng phương tiện để dụ dẫn ra…
(5)   Trong tất cả các Kinh, Đức Phật chỉ truyền duy nhất một Thông Điệp đó là Tam Pháp Ấn: Vô Thường - Khổ - Vô Ngã. Nếu không có những Pháp Ấn này thì không phải là Kinh Phật. Ai ngộ được một trong ba Pháp Ấn này, cũng xem như đã Ngộ Đạo được một phần.
(6)   Tâm tịnh là Quốc độ tịnh. Nếu biết Tu thì Phiền não tức Bồ Đề, thì Ta Bà hoá thành Tịnh Độ đâu xa !
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2016(Xem: 14551)
Sống chuyên tu Phật Giàu có như ai Hạnh phúc không cần Nghĩ đến ngày mai .
19/10/2016(Xem: 27533)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 12656)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 11556)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 12705)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 12058)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 13642)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 11426)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14986)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17543)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.