Chén Trà Tào Khê (thơ)

21/06/201819:33(Xem: 11272)
Chén Trà Tào Khê (thơ)
Chen Tra Tao Khe2

CHÉN TRÀ TÀO KHÊ

Phổ thơ từ bài viết
“ Chén Trà Tào Khê”
của TT Thích Nguyên Tạng

 

CHÉN ngọc thạch chứa đầy nước mát

TRÀ Đạt Ma thơm ngát tỉnh tâm

TÀO KHÊ suối ngọt ngàn năm

Trí Dược (Tam Tạng) khai tự - Huệ Năng (Ngũ Tổ) khơi nguồn.

....     ....    ....   ....    ...

 

2 - Nam Tông Phái, xiển dương đốn ngộ

Được khai sinh từ Tổ Huệ Năng

Tương tuyền câu chuyện kể rằng:

Trí Dược Tam Tạng cao tăng - đi thuyền

Sang Trung Hoa để truyền đạo pháp

Thuyền ngang qua suối mát Tào Khê

Nhìn xem phong cảnh sơn khê

Đất lành suối ngọt tràn trề bao la,

Ngược dòng nước lần ra đầu suối

Ngài dừng chân mở núi dựng chùa

Bảo Lâm (tự) tên gọi khi xưa

Nay vừa đổi lại thành chùa Nam Hoa...

Tổ thứ sáu Huệ Năng xuất hiện

Đến Tào Khê thay biến nơi đây

Hoa Nam Phật cảnh đẹp thay

Pháp tu đốn ngộ của Ngài Huệ Năng

Đem giải thoát triệu hằng Phật tử

Lập Nam Hoa cổ tự tâm linh

Tào Khê huyền ảo lung linh

Chia thành năm nhánh lan truyền khắp nơi...

3 - Huệ Năng Tổ Thứ Sáu Thiền Tông Trung Hoa.

Sử ghi lại đến đời lục tổ

Khai pháp tu đốn ngộ từ đây.

Huệ Năng tuổi nhỏ tâm khai

Chưa tu đắc đạo, mấy ai như ngài

Cha mất sớm những ngày còn nhỏ

Tuổi ấu thơ từ đó thay cha

Ngày ngày chăm sóc mẹ già

Bán củi nuôi sống cả nhà quanh năm

Nhân duyên trước, nay thầm gặp lại

Khi tuổi ngài vừa trải hai hai

Ngộ duyên đã đến một ngày

Giao củi cho khách bên tai, bổng trầm

Tiếng kinh tụng thanh âm kệ pháp

Từ bên trong ấm áp vọng ra

Dừng chân chăm chú nghe qua

Từng câu, từng chữ thật là diệu âm.

Bừng tỉnh mộng khai tâm trong dạ

Câu pháp kinh khi đã nghe qua

"Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm"

Dời chân cất bước vào nhà

Đợi nghe kinh hết dần dà hỏi thăm

Xin (cư sĩ) cho biết kinh âm kỳ diệu

Từ nơi đâu? Pháp hiệu là gì?

Cư sĩ tỏ rõ kinh thi:

Kim Cang-Bát Nhã, vô vi nhiệm mầu

Muốn am hiểu đến cầu (ngũ tổ) Hoàng Nhẫn

Chùa Đông Thiền ngài dẫn giải cho

Đôi câu thăm hỏi chuyện trò

Cư sĩ hiểu được nguyên do của ngài

Mười lạng bạc hôm nay gởi tặng

Tìm người thay nuôi nấng mẹ già

Tiều phu từ tạ lui ra

Chùa Đông Thiền hướng, đường xa vượt đèo.

Sau hai tháng lần theo vách đá

Xứ Kỳ Châu nay đã đến nơi

Đông Thiền trước mặt sáng ngời

Vào gặp Hoàng Nhẫn tổ đời thứ năm

Thầy bước tới hỏi thăm chỗ ở

Đến nơi đây nguyên cớ rõ ràng

Bạch thầy : con từ Lãnh Nam

Đến đây tu học cầu làm Phật thôi

Người Lãnh Nam xa xôi man rợ

Cầu làm Phật muôn thuở chẳng thành

Tiều phu vội vã đáp nhanh

Bạch thầy con được rõ rành tỏ phân:

Người Lãnh Nam chia phân đây đó

Phật tánh thời đâu có mà phân

Thấy người trí tuệ sáng ngần

Nhận vào công quả, pháp dần truyền sau..

Thời gian đã qua mau tám tháng

Nay tìm người xứng đáng kế thừa

Ra lệnh đệ tử trong chùa

Viết kệ sở chứng nộp đưa đủ đầy

Hàng đệ tử có thầy Thần Tú

Trí thiện cao. Nhắn nhủ vào đề:

Thân người tựa cây Bồ Đề

Tâm đài gương sáng không hề ố hoen

Năng lau chùi cho thêm tươi sáng

Đừng để cho vướng máng bụi trần

"Thân là cội bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Phải luôn nhớ lau chùi

Chớ để dính bụi trần"

Thầy Huệ Năng chuyên cần trong bếp

Nghe đọc bài phân biệt thấp cao

Xướng lên bài kệ thật mau

Nhờ người viết hộ, ghi vào sau đây:

Bồ đề vốn chẳng cây không trái

Gương sáng kia nào phải nơi đài

Sự vật không có xưa nay

Mà sao vướng bụi trần ai nơi nào?

"Bồ đề vốn chẳng cây

Gương sáng chẳng phải đài

Xưa nay không một vật

Nơi bào dính bụi trần".

Nghe bài kệ thấp cao đã rõ

Ngũ Tổ liền bày tỏ phân minh

Nửa đêm chỉ gọi một mình

Vào trong tịnh thất truyền kinh cho ngài

Kinh Kim Cang thuyết ngay trọn bộ

Truyền chân kinh Ngũ Tổ khai tâm

Trong kinh có đoạn chỉ rằng

Đệ tử ghi nhớ mà hằng tựa nương

Hãy nương vào chỗ nương không có

Và bắt đầu từ đó khởi tâm

"Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sinh Kỳ Tâm"

Huệ Năng khai ngộ, lặng thầm:

Thốt ra bài kệ "tự tâm" dâng thầy:

Nào ngờ tự tánh vốn là thanh tịnh

Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt

Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ

Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn phương

Nghe xong Ngũ Tổ liền tay

Y bát mang đến truyền ngay tức thì

Về Phương Nam hướng đi lánh nạn

Hãy rời mau kẻo sáng cơ nguy

Hành trình rời tự ra đi

Thân phận cư sĩ thời kỳ ẩn nương

Đoàn thợ săn dây vương bủa lưới

Bắt ngài ngồi chờ đợi thú rơi

Nhìn xem ngó khắp muôn nơi

Biết không ai thấy ngài thời thả đi

Có đôi lúc tùy nghi thuyết pháp

Khuyên thú rừng đừng sáp đến đây

Rau tươi độ thực mỗi ngày

Gởi trong nồi thịt thọ trai dần dà

Mười lăm năm trôi qua duyên đến

Ngài về Chùa Pháp Tánh Quảng Châu

Thấy hai vị tăng cãi nhau

Bất phân thắng bại bên nào muốn hơn

Phướn trước chùa gió vờn phướn động

Hay là vì gió lộng phướn vờn

Đôi bên lời lẻ thiệt hơn

Huệ Năng bước tới giải phân rõ ràng

Phướn không động gió cũng không động

Mà xem ra tâm động các ngài

Huệ Năng khai mở giải bày

Trụ trì Ấn Tông đến ngay hỏi ngài:

Nghe Y Pháp Huỳnh Mai nay đã

Được truyền sang hành giả đứng bên

Huệ Năng khi đó nhận liền

Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn pháp truyền thừa sang

Sư Ấn Tông vội vàng đảnh lễ

Và chọn ngày phát thế, nhận thầy

Huệ Năng giáo hóa nơi đây

Sau rời (chùa) Pháp Tánh từ đây trở về...

Bảo Lâm tự Tào Khê suối chảy

Lập Nam Tông Thiền Phái xiển dương

Pháp tu đốn ngộ khơi nguồn

Tào Khê Nam Tự suối tuôn năm dòng.

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Bến Tre 19/06/2018

Quảng Pháp Ngôn NVT

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/10/2024(Xem: 5487)
Trầm luân mơ giấc dị thường Đi hoang một thuở tà dương quên về Phù trầm mương đá bờ kênh Khát khao mạch suối trên ghềnh chiêm bao Trùng khơi muối mặn gọi nhau Đồng khô ruộng phước nhuốm màu sân si
10/10/2024(Xem: 9581)
Tại núi Linh Thứu Mở hội Pháp Hoa Mọi giới chúng sanh Tề tựu câu hội Vạn vật hân hoan Khoe sắc ban hương Tâm thần an lạc Sẵn sàng nghe kinh
09/10/2024(Xem: 5308)
Tháng mười rồi mà thu vẫn lang thang Dường mặc kệ, hạ miên man khắp nẻo Lá xanh um và màu trời trong trẻo San Jose, nắng chọc ghẹo phố phường! Thu sắp tàn, hạ đỏng đảnh vấn vương Trưa đổ lửa rót niềm thương quá đỗi! Miền Đông Mỹ đất trời đang giận dỗi Như quê nhà còn chìm nổi nạn tai.
09/10/2024(Xem: 4877)
Thích Ca Mâu Ni Phật Luôn nhắc nhở chúng sinh Phải Từ Bi Hỷ Xả Với đời và với mình. Giáo lý này còn gọi Là Tứ Vô Lượng Tâm. Bốn Vô Cùng, Vô Tận Của Cái Tình, Cái Tâm.
08/10/2024(Xem: 7438)
Cung đàn núi lạnh biển im Trăng treo hạt muối thả chìm đáy sâu Cánh chim sà xuống bóng tàu Hôm qua vĩnh viễn Ngày sau tương phùng Nốt thăng bi mẫn lưng chừng
06/10/2024(Xem: 5313)
Nghiệp nhân lành kết từ ngàn năm trước Thuận duyên sinh tươi nở cõi ta bà Hoa trái thơm tho sắc màu rực rỡ Cúi đầu đảnh lễ cúng dường Quán Âm. Đây lời thơ của con tim chân thật Cảm nhận từ pháp vũ đạo nhiệm mầu Tâm tịnh an lạc vừa mới khởi đầu Rất thánh thiện nguồn cam lồ vô tận.
06/10/2024(Xem: 6814)
Pháp quốc khai giảng Bậc Kiên Trên zoom toàn thể Lam viên đủ đầy Lòng anh chị Trưởng vui thay! Nhìn các em học tràn đầy mến thương Tương lai trên những bước đường Cấy trồng Sen Trắng được vươn thêm cành.
03/10/2024(Xem: 5262)
Những lời vàng trong kinh điển chuyển sang PDF Luôn sống cùng, lớn lên theo mãi thời gian Từ sáng tinh mơ, ngồi chăm chú theo âm vang Những pháp thoại đến từ năm cũ hòa với hiện tại Lời động viên, giải đáp giúp nuôi dưỡng mãi Sống để hạnh phúc hay tồn tại, hãy tự tìm ra Làm sao cho những ý tưởng ác là gió thoảng qua, Tạo thêm nhiều điều thiện biến thành châu ngọc Con đường ấy chỉ phải là Nghe, Đọc Để rồi rưng rưng hai hàng giọt lệ tri ân
02/10/2024(Xem: 8882)
Nguyễn Bá Chung cùng quê hương đại thi hào Nguyễn Trãi. Một sớm tinh mơ nào, vào cuối thu 1949, nhà thơ mở mắt chào đời nơi vùng quê Định Giàng, Đại Đức, cách chân núi Chí Linh, Hải Dương một đường chim bay. Khoảng giữa năm 1954, mới vừa 6 tuổi đã vội vã chạy theo cha mẹ di cư vào Sài Gòn. Bản chất thông minh, học hành quá xuất sắc, nên được Đại học Brandeis cấp học bổng du học tự túc Hoa Kỳ (1971) và sống định cư luôn bên Mỹ, từ đó cho đến bây giờ.