ly thuong kiet

Lý Thường Kiệt 

VỀ VỚI THƠ VIỆT !

“Bát âm”

Đừng gọi thơ Đường Đất nước đau
Nguyễn Thuyên (1) Hàn luật xứng anh hào
Thiền Sư Pháp 
Đỗ (2) hoằ ng chân đạo
Tướng quốc Lý Thường* định lược thao
Đồng vọng nhân tâm “NGUYỄN TRÃI cáo” **
Ngân vang vương khẩu “NHÂN TÔNG làu”
Văn như Siêu, Quát còn di cảo
Mãn Giác ,Tuệ Trung *** chẳng kém Tàu !


Quảng Trị 3/12/2017

Như Thị



(1) Hàn Thuyên tên thật là Nguyễn Thuyên , chức Thượng thư bộ hình dưới thời  Trần Nhân Tông, Mùa thu năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ 2; bấy giờ có cá sấu đến Sông Hồng. Vua sai Thuyên làm văn ném xuống sông, con cá sấu tự nhiên đi mất. Vua xem việc này giống như việc Hàn Dũ “Đời Đường” cho đổi họ là Hàn Thuyên. Hàn Thuyên giỏi thơ Nôm. Ông được xem là người phát triển, phổ biến chữ Nôm của Việt Nam. Ông là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Luật đường  HÀN LUẬT

(2) Đỗ Pháp Thuận là thiền sư đời thứ 10, dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi Sư trụ trì ở Chùa Cổ Sơn

Đang vào lúc NHÀ TIỀN LÊ dựng nghiệp, trù kế hoạch định sách lược, sư tham dự đắc lực. Đến khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Vua LÊ ĐẠI HÀNH càng thêm kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ Pháp sư và đem việc soạn thảo văn thư giao phó cho sư

*LÝ THƯỜNG KIỆT
** Bình ngô cáo
- Vua LÝ NHÂN TÔNG truy tán Vạn Hạnh Thiền Sư

(VẠN HẠNH LÀU "THÔNG" BA CÕI)

*** Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) tên thật là Trần Tung hay Trần Quốc Tung


PHẬT PHÁP NHIỆM MẦU
(Họa lại bài VỀ VỚI THƠ VIỆT “Bát âm” của Như Thị)

Phật Pháp lưu truyền, giải khổ đau
Luân hồi nhân quả, bất sai hào
Trầm luân lụy đắm, không tin đạo
Giải thoát thong dong, chẳng lược thao
“Một chỗ gom tâm” Phật phổ cáo:
“Thông lưu kim cổ” thể làu làu
Một mình tự thân, làm hòn đảo
Quán chiếu sáng soi, Bát nhã tàu

Pháp Hoa - Nam Úc, sáng 4/12/2017
Thích Viên Thành



cao ba quat 2

Cao Bá Quát 


VỀ VỚI THƠ VIỆT !

(Bài họa)

 

Đường thi họa xướng vốn không đau,

Bá Quát hiên ngang rõ bậc hào. (I)

Quách Tấn tinh hoa lưu cỗ khảo, (2)

Lý Vương sắc nét kiến chương thao. (4)

Gian truân Văn Trị trung kiên náo, (3)

Ẩn dật Dương Khuê nghĩa khí làu.(*)

Tùng Thiện uyên thâm nhân thế bảo,(5)

Xuân Hương, Bà huyện chẳng thua Tàu! (**)

 

Việt Nam, 3/12/2017

Minh Đạo

--------------------------------

 

 

(*) Dương Khuê là người ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội).
Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ.[1]
Nghe tin, bạn thân ông là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ Khóc bạn để viếng ông (trong đó mở đầu bằng câu: "Bác Dương thôi đã thôi rồi").
(**) Hồ Xuân Hương- Bà huyện thanh Quan
(!)Cao Bá Quát (1809? – 1855), tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Ông là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (nay thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội), và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong văn học Việt Nam.
(2) Quách Tấn (1910-1992), tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, các tiểu hiệu là Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vườn; là một nhà thơ Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn.
(3) Phan Văn Trị sinh năm Canh Dần (1830) tại thôn Hưng Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre).
(4) Tuy Lý vương, 3 tháng 2 năm 1820 - 18 tháng 11 năm 1897), biểu tự Khôn Chương và Quý Trọng hiệu Tĩnh Phố và Vỹ Dạ); là một hoàng tử nhà Nguyễn.
Ông nổi tiếng là thành viên Mạc Vân thi xã và là một trong Nguyễn triều Tam Đường
(5) Tùng Thiện vương, 11 tháng 12 năm 1819 – 30 tháng 4 năm 1870), biểu tự Trọng Uyên lại có tự khác là Thận Minh hiệu Thương Sơn biệt hiệu Bạch Hào Tử
Ông là một nhà thơ lớn của triều đại nhà Nguyễn, được xếp vào một trong Nguyễn triều Tam Đường và là một nhà thơ lớn trong hội Mạc Vân thi xã nổi tiếng.

 


hai ba trung
ANH THƯ NƯỚC VIỆT

Kính họa vận bài thơ “Về Với Thơ Việt” của Như Thị



Gẩm nhìn thế sự chạnh lòng đau

Dựng nước còn lưu dấu Anh hào

Trưng, Triệu lẩy lừng danh một dạo (*)

Cô Giang Cô Bắc cũng lược thao (**)

Biên cương gìn giữ lời tuyên cáo

Bài hịch Cần Vương vẫn thuộc làu

Gương lớn nêu cao thành di cảo

Anh Thư nước Việt chẳng thua Tàu.

Germany ngày 04 tháng 12 năm 2017

Cư Sĩ Đan Hà

(*) Hai Bà Trưng: Trưng Trắc là vợ của Thi Sách con quan Lạc Tướng ở Chu Diên ngoại thành Hà Nội. Thí Sách phản đối chính sách cai trị độc ác của Thái Thú Tô Định nên bị giết. Năm sau Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị khởi binh chống lại nhà Đông Hán lập nên nước Việt đóng đô ở Mê Linh xưng là Trưng Vương.

(*) Bà Triệu cùng với anh là Triệu Quốc Đạt khởi binh chống lại nhà Đông Hán. Sau khi anh bà lâm bệnh qua đời. Các nghĩa binh thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân.

(**) Cô Giang là một nữ Đồng chí thao lược và can cường, và sau nầy là vợ của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học trong thời kỳ chống Pháp. Sau khi Chí sĩ Phan Bội Châu bị giặc bắt dẫn độ về Huế, Bà là một trong những người dấy lân phong trào Sinh Viên và Học Sinh đòi trả tự do cho Cụ.

 

 thich vien thanh

Về Với Thơ Việt

 

Chẳng có thơ Đường mới thấy đau

Sĩ phu ngày trước bậc anh hào.

Tám câu chắt lọc tràn đầy ý

Bảy chữ lung linh tỏa sắc màu.

Từ,đối ,nghiêng qua theo qui luật

Câu ,nêm ,né lại phải thông làu.

Chọn lời, dẫn ý sao cô đọng

Thơ đẹp như tranh xứng với Tàu.

 

PT Tâm Minh

      VỀ VỚI THƠ VIỆT
  Kính hoạ lại bài hoạ : Về Với Thơ Việt của PT Tâm Minh

Ngẫm nghĩ thơ Đường ruột tím đau
Nông dân thưở trước đáng tự hào
Lục bát đề huề thêm đậm ý
Sáu tám hoà nhau đẹp ngát màu
Đối đáp hò reo cùng qui luật
Sáng trăng thuyền vượt gió thông làu
Giữ lời thông ý từ vang vọng
Nguồn thơ nước Việt đáng hơn Tàu .

           Dallas , 4-12-2017
Tánh Thiện



      VỀ VỚI THƠ VIỆT
  Kính hoạ lại bài hoạ : Về Với Thơ Việt của PT Như Thị


Thơ Đường vang bóng đã từ lâu
Thi văn Nước Việt vẫn tươi màu
Anh Hùng Âu Lạc rền danh tiếng
Thế Nước bây chừ Quỷ tóm thâu!..
Văn Chương phong phú còn Đất Việt
Cải biên, diệt tiếng Nước tàn mau
Nhân Quả rõ ràng lời Phật dạy
Mất trắng Gian Sơn cho Giặc Tàu!..

Houston 15-12-2017
Quảng An

 

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/06/2015(Xem: 13175)
A Nan Đà, ta biết, Là một trong mười người Được gọi đại đệ tử Khi Đức Phật sinh thời. Ông xuất thân quí tộc Con vua A Mi Đà, Tức ông là cháu ruột Của Đức Phật Thích Ca. Khi Ngài về La Vệ, Ông vừa tròn hai mươi
15/06/2015(Xem: 13118)
Bố luôn luôn là một người Dễ thương, tử tế đồng thời giỏi thay Bố thường đoán biết ra ngay Trong đầu ta nghĩ loay hoay những gì. Bố là người biết lắng nghe Đôi khi góp ý rất chi tận tình Và luôn bảo vệ cho mình. Bố là người bạn chân thành nhất thôi. Khi ta thắng lợi trong đời Bố thường kiêu hãnh thốt lời ngợi ca Khi ta thất bại xót xa Bố thường kiên nhẫn giúp ta tới cùng Không hề có lúc nản lòng.
15/06/2015(Xem: 12851)
Con yêu Cha rất nồng nàn Yêu vì những thứ Cha làm con vui. Khi con cảm thấy buồn đời Cha làm con nở nụ cười được ngay. Khi con làm kẹt nút dây Cha luôn gỡ nút, khéo tay vô cùng.
13/06/2015(Xem: 14481)
Có nhân thì có quả. Đó là luật của Trời. Cũng là luật của Phật, Ứng nghiệm với mọi người Một lần, khi giảng pháp, Với tôn giả, sư thầy, Phật Thích Ca đã kể Một câu chuyện thế này. Có một con bò nọ, Nhân khi vắng người chăn, Đã xuống ăn ruộng lúa Của một người nông dân.
13/06/2015(Xem: 18828)
Đầu tiên học “nhận lỗi mình” Chúng sinh thường chẳng có thành thật đâu Cho rằng mình đúng trước sau Lỗi lầm nếu có đổ mau cho người Khi ta chối lỗi, than ôi! Chính là lỗi lớn nhất đời của ta!
13/06/2015(Xem: 12927)
Một người hỏi Đức Phật: “Bạch Như Lai từ bi, Tôi muốn có hạnh phúc. Vậy thì phải làm gì?” Đức Phật đáp: “Trước hết Anh phải bỏ chữ “Tôi”. Tiếp đến bỏ chữ “Muốn”. Chỉ hai chữ đó thôi. Vì “Tôi” là ích kỷ. “Muốn” là mong, là tham. Bỏ nó, anh hạnh phúc, Trong ý nghĩ, việc làm.”
05/06/2015(Xem: 13577)
Thiền sư Vô Căn trong một lần nhập định 3 ngày, thần thức của ông xuất khỏi thân thể. Các đệ tử của ông tưởng lầm ông đã tịch diệt nên mang nhục thân ông đi hỏa táng. Sau 3 ngày thần thức của ông trở về nhưng không tìm được nhục thân. Tìm không được nhục thân nên thần thức thiền sư Vô Căn quanh quẩn nơi căn phòng ông ở, liên tiếp than thở tìm kiếm nhục thân của ông nhiều ngày đêm thống thiết: Tôi ơi, Tôi ở đâu?… Tôi ơi, Tôi ở đâu?… Điều này làm cho các đệ tử của ông rất ư kinh sợ. Một người bạn của thiền sư Vô Căn tên thiền sư Diệu Không nghe tin liền đến ngay thiền viện bảo các đệ tử của thiền sư Vô Căn là đêm đó thiền sư sẽ nghĩ lại trong phòng của thiền sư Vô Căn rồi bảo các đệ tử hãy mang cho ông một thau nước, một bồn lửa, một bồn bùn đất.Đêm đến, thiền sư thiền sư Vô Căn lại nghe tiếng than thống thiết của thần thức thiền sư Vô Căn:
04/06/2015(Xem: 14816)
Thích cho đi ngày càng nhiều phước báu Thích cảm ơn điều thuận lợi nhiều hơn Thích giúp người ta thường gặp quý nhơn Thích oán trách ngày thêm nhiều phiền não Thích mãn nguyện niềm vui hay lai đáo Trốn tránh thời thất bại rất chua cay Thích sẻ chia bè bạn đến hằng ngày Thường giận dữ ngày càng nhiều bệnh tật Thích chiếm dụng sau nầy thành hành khất Bố thí thường ngày càng được giàu sang Thích hưởng thụ nợ khổ lắm đeo mang Thích học hỏi ngày càng tăng trí tuệ
01/06/2015(Xem: 13352)
Có một khoảng cách tìm đến Có một khoảng trống tìm về Nỗi đau trái tim đan bện Chập chùng ảo ảnh hôn mê. Phật thương chúng sanh như mẹ Cưu mang chín tháng mười ngày Bao nhiêu lá răm lá hẹ Ngậm cười nuốt trọn đắng cay.
01/06/2015(Xem: 12085)
Làm con đức Phật được nhiều điều quý Vì học theo Ngài nên rất bình an Thân tâm không vướng bận chuyện thế gian Thật diễm phúc trong đạo mầu tỏa sáng