Phong Nguyệt (thơ)

30/11/201707:11(Xem: 13313)
Phong Nguyệt (thơ)

   

 PHONG NGUYỆT

Thơ Ngũ ngôn (tiếp theo)

 lotus-hoa-sen

 

1.- Diệu Pháp nào ?

 

Không từ nơi nguồn cuộc sống

Muôn trùng khổ đế thậm thâm

Cành lau nghiêng chiều thực-mộng

Cành lau trắng trời diệu tâm.

 

2.- Vằng trăng nào ?

 

Giữa ao trời diễm tuyệt

Huyền diệu mười phương mây

Vẫn tròn gương cổ nguyệt

Cõi thơ, cõi Phật nầy.

 

3.- Cái nhìn

 

Đốt cháy niềm đau khổ luỵ

Buông tay cuộc hẹn ta bà

Đêm trở bừng cơn mộng tuý,

Chòi khuya nghiêng ánh trăng tà.

 

4.- Trăng đoàn viên

 

Lung linh vầng nguyệt cổ

Ngàn sông thoáng hiện trăng

Vẫn RẰM - tròn muôn thuở

Huyền diệu ánh tơ vàng.

 

5.- Dặm xưa

 

Bỏ lại dấu chân nguyên thuỷ

Mấy mùa mây trắng trôi xa

Sương đọng chiều hôm mộng mị

Đầu non quang ánh trăng ngà.

 

6.- Cuối ngàn

 

Đêm sắm tuồng dâu bể

Sương đọng ngoài hiên trăng

Thêu dài thêm mộng mị

Lạc vầng mây cuối ngàn

 

7.- Canh trường

 

Đá mòn phơi lối cũ

Sương rụng nẻo tà dương

Chim về non xanh ngủ

Vầng nguyệt sáng canh trường.

 

8.- Vẫn nguyên Rằm

 

Âm vang lời cát sỏi

Tình tự thuở ngàn năm

Theo hoài vầng trăng cổ

Lòng trăng vẫn nguyên Rằm.

 

9.- Tình trăng sao

 

Đầy vơi trà mấy bận

Thế sự tuồng lao xao

Mây trắng đường vô tận

Thức-ngủ tình trăng sao.

 

 

10.- Tam thiên tụng

 

Bài kinh tam thiên tụng

Ý kinh vi diệu lời

Cỏ hoa bừng cơn mộng

Mây trắng đầu non trôi.

 

11.- Rừng Sala

 

Bình minh thức,

mây lành nổi

Bóng nghiêng vàng sắc cà sa

Thế giới ba ngàn tụ hội

Bình yên theo từng sát na.

 

12.- Nỗi niềm

 

Khởi đi từ bao thuở

Qua mấy nẻo hoàng hôn

Chút nắng còn tạm bợ

Phong kín dấu rêu cồn.

 

13.- Vai gầy

 

Quảy lên vầng nhật nguyệt

Ngược xuôi chiều gió sương

Nhẹ tênh hồn dâu bể

Nhẹ tênh gánh vô thường.

 

14.- Sầu rụng

 

Trái sầu thiên cổ luỵ

Sầu rụng, mấy tiêu dao

Vo tròn cơn mộng tuý

Về ngủ dưới trăng sao.

 

  MẶC PHƯƠNG TỬ.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/03/2015(Xem: 11629)
Nguyện đem tất cả chân tình Hiến dâng đời đạo nhân sinh cõi này Nguyện làm được việc gì hay Giúp cho nhân thế mỗi ngày tốt hơn Nguyện không ganh ghét oán hờn Giữ tâm kiên cố không sờn chí tu Nguyện hằng tinh tấn công phu
29/03/2015(Xem: 12823)
Giờ này cánh đồng cỏ cây hoa lá Ươm sắc hương theo gió nhẹ nhàng Quả đen tầm gửi bắt đầu thả bóng Chiều đổ xuống, nép mình dưới lá vàng
27/03/2015(Xem: 16724)
Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày. Thấy lạ, có người hỏi: - Tại sao ông vui tươi mãi như thế? Ông lão đáp: -Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất, “Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người. Ấy là điều sướng thứ nhất. -Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn, ấy là điều sướng thứ hai -Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa, không lo lắng gì cả. Ấy là điều sướng thứ ba - Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai tránh được. Ta cũng như mọi người, việc gì phải buồn. - Nghĩ tới ba điều sướng ta có được, ta vui ca cũng là chuyện thường tình, mắc mớ chi phải hỏi.
26/03/2015(Xem: 12901)
Lạy Mình Ghé tay sờ gốc Bồ Đề Con xin chút lực dội về trong Tâm Nguyện lòng vun xới quanh năm Hằng ngày bái lạy niệm "Nam Mô... Mình!"
25/03/2015(Xem: 20884)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
25/03/2015(Xem: 17179)
Thấy đời khổ quyết tìm đường cứu khổ Mặc dầu đang sống nhung lụa quyền uy Trong bốn mùa có cung điện theo tùy Với vợ đẹp con ngoan người hầu hạ
20/03/2015(Xem: 15864)
Hoằng dương Pháp thoát luân hồi sinh tử Giác chu toàn cứu cánh (1) của đời tu Cất bước cao ra khỏi chốn ngục tù Nhiếp ma quân hướng về nơi Cực lạc
20/03/2015(Xem: 14213)
Khép cánh Phù Du (thơ)
19/03/2015(Xem: 14150)
Tháng Giêng, Di Lặc tươi cười, Cùng bầy ngũ tặc vui chơi thiện lành. Tháng Hai là tháng học hành, Khẩu, thân, ý, chính là nguồn sân si. Tháng Ba, học “Đà Ra Ni”, Bút nghiên kinh kệ nhớ ghi hằng ngày.
18/03/2015(Xem: 12862)
Tết mâm ngũ quả cúng gia tiên Bắc Trung Nam, khác cả ba miền Năm Yếu tố cấu thành vủ trụ Thể hiện Mộc Thủy Hỏa Thổ Kim