Dạ thưa phố Huế bây giờ (thơ)

21/08/201718:25(Xem: 16674)
Dạ thưa phố Huế bây giờ (thơ)
Song_Huong nui ngu

Bùi Giáng làm thơ về xứ Huế

Với xứ Huế, thi sĩ dị thường Bùi Giáng đã định danh bởi hai câu thơ như sấm truyền khiến hậu thế khi nói về Huế đều trích dẫn. Nhưng hình như không thấy ai để tên của bài thơ đó và cũng chỉ thấy mọi người trích đúng hai câu thơ khiến nó đi vào trong dân gian một cách không đầy đủ. Trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, tôi thường đi tìm kiếm sách cũ, tình cờ thấy được chùm thơ của Trung niên thi sĩ in trong tạp chí Tư Tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh, lẫn lộn với những tạp chí Sáng Tạo, Văn, Thời Nay… Đọc chùm thơ của thi sĩ Bùi Giáng vốn lừng danh và kỳ dị, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy bài đầu tiên có nhan đề “Thôn xóm Thừa Thiên”. Vẫn cái chất trí tuệ siêu vượt cùng với cái điệu cà rỡn của con người có một không hai đã đi vào huyền thoại thi ca, chứng tỏ rằng loạt thơ này ông sáng tác vào thời kỳ “Sa mạc phát tiết” và ông đã ra phố Huế ngao du thiên hạ, xin được trích bài thơ gồm sáu câu tặng cho “Thôn xóm Thừa Thiên”:


Vào thôn xóm trọ một mùa

Qua xuân tới hạ ghé chùa chiền hoa
Cô nương mắt ngọc răng ngà
Nhìn bồ tát gọi rằng là: dạ thưa
- Dạ thưa phố huế bây giờ
Vẫn còn núi ngự bên bờ sông hương


Bui giang va Trinh Cong SonBùi Giáng (phải) và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. (Ảnh tư liệu)


Trong bài thơ trên, hai câu cuối (in trong tạp chí Tư Tưởng) có những địa danh về Huế không viết hoa như “phố huế”, “núi ngự”, “sông hương”, có thể với thi sĩ Bùi Giáng đó là cách chơi chữ mà ông vẫn thường sử dụng, vì “núi ngự” và “núi Ngự” hoàn toàn khác nhau nhưng vẫn không dị biệt, hoặc có thể “sông hương” và “sông Hương” cũng có ý nghĩa như vậy. Vì theo tôi, “núi ngự” và “sông hương” có nghĩa rộng và sâu hơn “núi Ngự” và “sông Hương” trong ý nghĩa thi ca.

Vậy xin được in toàn bài thơ trên để những người quan tâm về Cố đô Huế,  quan tâm về Bùi thi sĩ  biết được nguồn gốc để trích dẫn.

Bài thơ thứ hai là “Đêm Vỹ Dạ” được đề tặng Hàn Mặc Tử đã khiến người đọc ngạc nhiên hơn cũng với thi pháp rất Bùi Giáng, đảo chữ, nói lái nhưng lại rất trí tuệ theo kiểu triết lý mà không sáo mòn. Trong bốn câu thơ này được thi sĩ viết hoa địa danh Vỹ Dạ. Cũng cái kiểu lấy hữu hạn đong đếm vô cùng của triết gia thi sĩ họ Bùi khiến người đọc dao động từ biên độ hữu hạn đến cõi vô cùng, qua sự đối ngẫu của ngôn ngữ hoặc hình ảnh không gian gợi tưởng như: “gần” và “xa”, “một vùng” và “song trùng”,…

Đêm Vỹ Dạ

Hai chân bỏ xuống một vùng
Đêm thưa Vỹ Dạ song trùng lời vâng
Dạ thưa Vỹ Dạ về gần
Đã từ xa lắm thiên thần nhớ em

(tặng Hàn Mặc Tử)

Hai bài thơ tiếp theo của thi sĩ Bùi Giáng về xứ Huế viết về vùng Vỹ Dạ có thể được ra đời qua trường liên tưởng từ bài “Đêm Vỹ Dạ” tặng Hàn Mặc Tử, là bài “Dạ Vỹ thưa” và “Vỹ Dạ thưa”, chỉ cần thấy hai nhan đề bài thơ đã biết chính hiệu Bùi Giáng thi nhân.

Dạ Vỹ thưa

Hai chân bỏ xuống một miền
Thưa vâng dạ vỹ em phiền thế sao
Dạ vâng đêm lục hồng đào
Đã từ vĩnh biệt quận vào quê xa

Vỹ Dạ thưa

Hai tay bỏ xuống một vùng
Ngón xanh ngón đỏ ngón ngần ngại gieo
Ngón về vẽ lục tường rêu
Vẽ vu sơ thái trong veo thanh cần

Hai bài thơ trên vẫn bắt đầu bằng hình ảnh tứ chi, “hai chân bỏ xuống”, “hai tay bỏ xuống”. Rồi với cái điệu đùa giỡn với các từ: “thưa, vâng, dạ” rất trịnh trọng nhưng với thi nhân là “phiền thế sao”. Trong câu “Dạ vâng đêm lục hồng đào” cho thấy sự uyên thâm của Bùi Giáng đã khiến câu thơ nhiều nghĩa, ông cố tình không dùng dấu phẩy để ngắt nhịp để người đọc tự do ngắt theo tri nhận của từng người. “Dạ” trong câu thơ trên cũng có thể là “đêm” hoặc “Dạ” cũng có ý nghĩa trong gọi dạ bảo vâng.

Bài thứ năm trong chùm thơ đó là “Thanh hiên ca” ông để tặng Lão Thần, cũng là một mật mã của Bùi Giáng với những ẩn nghĩa siêu phàm.

Thanh hiên ca

Lên rừng hỏi lại chóc chim
Vùng sương cố quận ai tìm ở đâu
Lão thần liêu tác vãn câu
Trung lai vần cú mối sầu sau lưng
Chóc chim kỳ mộng luồng từng
Tình vân như mạo chưa từng kể tên
Quyện ngâm sầu khách cuối ghềnh
Đầu truông ưu lự nếp nền tiểu khê
Cỏ khe tồn lý tê mê
Tìm sương dưới nguyệt lối về trong hoa

(Tặng Lão Thần)

Từ ngày tình cờ đọc được chùm thơ của Bùi Giáng trong Tạp chí Tư Tưởng (Số 1 {18} 15-03-1971)) khi mua sách cũ đến bây giờ đã trên dưới ba mươi năm. Trong lòng hứa sẽ viết bài để đính chính hai câu thơ dị bản mà mọi người vẫn thường đọc và trích dẫn khi nhắc đến Bùi thi sĩ hoặc nhắc đến xứ Huế như một slogan:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Tìm mãi không ra tạp chí Tư Tưởng, cứ áy náy đến tận bây giờ, hữu duyên thì sẽ gặp. Vậy là tình cờ trong tình cờ, khi tìm lục sách cũ để xác minh nguồn gốc hai câu thơ của thi sĩ Bích Khê lại gặp thi sĩ Bùi Giáng, vậy là ngồi viết một mạch để hiểu rằng: “Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm”, và mong rằng từ nay dị bản sẽ được trả về nguyên bản:

- Dạ thưa phố huế bây giờ
Vẫn còn núi ngự bên bờ sông hương

LÊ HUỲNH LÂM



 

Kính mời xem trang tác phẩm
của Nhà Thơ Bùi Giáng
buigiang3




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2020(Xem: 12371)
Vầng mây xám, bay ngang Trời-Kiếp-Trước Tìm cơn mưa buốt lạnh ở Đời-Sau Hạt lệ ai, có trong ngày mưa ấy? Mà tử sinh nào, ta thất lạc nhau!
11/01/2020(Xem: 10353)
(Kính tặng Sư Cô Thích Nữ Quảng Tâm - "Đôi Chân Đất", một người xuất gia dành phần lớn thời gian để lội suối băng rừng, lặn lội đèo dốc, băng vượt đường đất nẻo xa bất kể mưa nắng đến với đồng bào nhọc nhằn nghèo khổ ở những vùng sâu vùng xa, Sư Cô cũng là nhịp cầu kết nối giữa những tấm lòng yêu thương đầy trắc ẩn của những người thiện nguyện và bà con hoạn nạn bệnh tật, những mảnh đời bé bỏng côi cút thiếu thốn vất vã ở các vùng cao nguyên đìu hiu rét buốt...)
05/01/2020(Xem: 11100)
(Thượng tọa Viện Chủ Tu Viện Quảng Đức ở Úc Đại Lợi ghé đến từ đường thăm hỏi và tặng quà Tết chúc thọ Nữ sĩ Tâm Tấn ở thành phố Nha Trang) "Mẹ già như chuối chín cây" Gió lay chưa tới Thấy Thầy ghé thăm Đau lưng, Mẹ vẫn còn nằm Thầy hoan hỷ Thầy ân cần ngồi bên Chiều tà Mẹ đón phước duyên Quà xuân, Lộc mới cửa Thiền yêu thương Bao năm xa cách đại dương "Cuối đời lọc những tinh sương" tặng Thầy Con quỳ hầu Mẹ nơi này Tạ ân Tam Bảo Một ngày An Vui!
04/01/2020(Xem: 12363)
Nhìn tượng Phật để lòng luôn tỉnh thức Tôn dung Ngài đẹp nhất cõi nhân gian Ngắm nhìn thôi tâm đã được bình an Muốn lợi lạc thực hành lời Phật dạy
04/01/2020(Xem: 12111)
Phật nhập Niết Bàn Pháp thân tỏ rạng Tịch diệt vô dư vắng lặng chơn thường Công hạnh Ngài đã tỏa khắp muôn phương Nhìn tượng Phật lòng tràn đầy hoan hỷ Ngài nằm đó một dáng nằm tuyệt mỹ Cho muôn đời muôn thế kỷ tôn vinh Cuộc đời Ngài vì tất cả chúng sinh Ứng thân diệt nhưng pháp thân còn mãi
02/01/2020(Xem: 11750)
CHÚC mọi người vui đón pháo hoa, MỪNG Tân Niên đến với muôn nhà! NĂM hết,ươm mầm bao ước vọng, MỚI mong rồi chóng được ra hoa!
02/01/2020(Xem: 12920)
Tưởng niệm 32 năm ngày mất của nhà văn B.Đ. Ái Mỹ (1987-2019), mồng 6 tháng Chạp âm lịch, năm nay nhằm ngày 31 tháng 12 cuối cùng của năm 2019... Cha hiền của tôi đó, một thiện nam Phật tử, pháp danh Tâm Phát. Ông là một nghệ sĩ tài hoa, đa năng với thơ-văn-nhạc-họa, nhưng rất khiêm cung, hoạt động lặng lẽ vào các thập niên 40-50-60 của thế kỷ trước, và luôn hoan hỷ chịu làm cái bóng mờ nhạt đứng thấp thoáng sau lưng người bạn đời thi sĩ, là Me tôi, cho đến những ngày cuối của cuộc đời...
02/01/2020(Xem: 11223)
Tuổi Cuối Đời Kính tặng Bác Tâm Diệu và Bác Minh Đạo. Cuối đời ta chẳng còn chi Ngồi nghe kinh Phật từ bi thấm dần Trải qua cuộc sống thăng trầm Hiểu Thương để thấy vạn phần bình yên Giờ đây nhẹ bớt não phiền Tiền tài sắc đẹp chẳng phiền đến ta Danh xưng phù phiếm cũng qua Tuồi đời còn lại xót xa làm gì Người tu Pháp Phật nhớ ghi Tử sanh như mộng ra đi nhẹ nhàng. Dallas Texas, 30-12-2019 Tánh Thiện
02/01/2020(Xem: 11082)
Ngày cuối năm hai ngàn mười chín Trà vẫn thơm an tĩnh cửa thiền Thời gian trôi việc cố nhiên Riêng ta giữ hạt thiện duyên tươi nhuần
01/01/2020(Xem: 10937)
Tay bóc tờ lịch cuối, Năm cũ đã qua rồi. Ta có gì tiếc nuối? Nụ cười vẫn trên môi…