Lưu Vong Khúc (thơ)

06/06/201610:46(Xem: 14418)
Lưu Vong Khúc (thơ)

Hoa cuc quang duc (7) 

 

LƯU VONG KHÚC 

Vĩnh Hảo

 

 

 

 

Cổ thụ nghìn năm, vươn thẳng trời phương nam

Đâm chồi, tủa nhánh, tỏa bóng bao la trên đất lành

Người nương thân, cỏ cây trổ hoa đơm trái,

Chim, sóc, côn trùng... đêm ngày lừng tiếng hoan ca

Một thời vòi vọi bờ đông, sừng sững non đoài, cao vút

Nào ai hay, có khi cũng hiện tướng suy tàn!

Nước cạn, đất khô, sâu mọt đục khoét

Từ rễ đến ngọn e chừng đã mục ruỗng

Cũng đành: đại bàng soải cánh tha phương, người hiền lánh mặt

Những người hiền đã từng đánh đuổi kẻ hung hăng

Đã từng uy phong chống giặc ngoài lấn hiếp

Nhưng không biết đối sách nào với loài sâu mọt bé tí

Cũng đành: ẩn tích non cao, khuất thân rừng thẳm

Có khi làm kẻ không nhà, du hành qua những phố thị

Lắng nghe hơi thở sinh dân

Quặn đau tiếng khóc muôn loài…

Có khi băng rừng vượt biển, làm kẻ tha hương

Lao đao sống gửi quê người, mà lòng nào nguôi

Nhớ nước, thương non, xót dân tình khổ lụy

Vời vợi đôi bờ biển lớn

Canh cánh quê nhà đoái trông

 

Này anh này chị này em

Nước đục còn dùng được không?

Nước nhục lấy chi mà rửa?

Tôm cá, chim trời, cây cỏ chết

Rồi người sẽ chết dần mòn trong năm tháng nào đó

Biển, đất hoang vu

Làng quê quạnh vắng

Còn ai ghi lại tang thương nầy!

 

Ngoắc ngoải chờ ai cứu vớt

Lây lất tạm sống từng giây

Biển rộng không dung được cá

Thì đất nầy chứa chấp những ai!

Quê nhà rợp cả rừng cờ

Hay máu lệ trải khắp non sông!

Người đi, kẻ ở nay cùng một phận: LƯU VONG!

Làm người xa xứ, hoặc lạc loài trên chính quê hương mình.

 

Hỡi anh chị em, hãy tự hỏi

Còn lối thoát nào cho chúng ta?

Cây nghiêng bờ đông, cành gẫy bờ tây

Bão giông đã tận một phương nầy

Biển mất, đất mất, ta còn gì để mất!

Ngồi xuống cùng nhau, mở rộng đôi tay trần

Mặc định một lần: không làm kẻ lưu vong nữa

Quê nhà là đây:

Trong tiếng nói, trong con tim đồng điệu

Hãy nói cùng nhau, hãy đập cùng nhau

Trang sử nầy!

 

 55- bao chanh phap so 55

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 13811)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13435)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25171)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52267)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16341)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11655)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19687)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 13969)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 18726)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 17447)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)