Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Vua Khỉ và Thủy Quái

19/01/201621:41(Xem: 2548)
Vua Khỉ và Thủy Quái

VUA KHỈ

VÀ THỦY QUÁI

(Năm Bính Thân kể chuyện
“Tiền Thân Đức Phật”)

monkey

 

Ngày xưa trong chốn rừng sâu

Có bầy khỉ nọ cùng nhau họp đoàn

Đếm ra đủ tám mươi ngàn

Bầu ra vua khỉ đầu đàn chỉ huy

Thân hình vua lớn dị kỳ

Lại thêm đầu óc rất chi tuyệt vời.

Thế rồi một buổi đẹp trời

Họp bầy, vua khỉ ban lời khuyên răn:

"Hãy nghe đây, các thần dân!

Rừng nhiều cây trái vô ngần độc thay

Cùng nhiều hồ nước quanh đây

Chứa loài thủy quái lâu nay nấp rình,

 Ai ăn quả lạ trên cành

Hay là uống nước hồ mình không quen

Đừng ăn, đừng uống ngay liền

Hỏi ta trước đã, chớ nên vội vàng!"

Nghe lời vua khỉ khôn ngoan

Cho nên bầy khỉ cả đoàn tuân theo

Tránh xa chết chóc hiểm nghèo

Rừng thiêng, nước độc trăm điều gian nguy.

*

Thời gian trôi, một ngày kia

Cả bầy khỉ tới bên lề rừng hoang

Kiếm ăn suốt buổi lang thang

Giờ này mệt mỏi cả đoàn ngừng chân

Ngồi quanh hồ lạ ở gần

Dù đang khát nước, ngại ngần lắm thay

Nào đâu dám uống nước ngay

Đành chờ vua khỉ tới đây thăm dò.

Ngay khi vua khỉ tới hồ

Thấy toàn bầy vẫn ngồi chờ ở quanh

Bèn khen: "Quả thật khôn lanh

Chờ ta dò xét tình hình tại đây!"

Mắt tinh vua khỉ thấy ngay

Dấu chân súc vật in đầy chung quanh

Nhưng đều đi xuống hồ xanh

Dấu chân trở lại quả tình thấy đâu

Nên vua khỉ nhận ra mau

Có loài thủy quái ẩn sâu dưới này,

Vua bèn nói với cả bầy:

"Coi chừng quái vật hồ đây hại mình!"

*

Quả nhiên có quỷ thật tình

Quỷ chờ chẳng được hiện hình trồi lên

Vừa hung dữ, vừa cuồng điên

Bụng xanh, mặt trắng, lông đen, mắt lồi

Móng chân đỏ nhọn kinh người

Quỷ lên tiếng nói: "Xin mời xuống ngay

Xuống đây uống nước hồ này

Cớ sao nhịn khát mà gây muộn phiền!"

Đáp lời vua khỉ hỏi liền:

"Hồ này có phải thuộc quyền mi không

Và mi thường cũng ăn luôn

Những ai chót dại sa chân chốn này?"

Quỷ bèn đáp: "Đúng vậy thay

Ta ăn tất cả, lâu nay quen rồi

Chim muông, súc vật, con người

Ngươi to xác chắc thịt tươi đậm đà!"

Quỷ thèm, nước miếng chảy ra

Ướt cầm lông lá thật là hãi kinh.

Nhưng vua khỉ rất thông minh

Bao năm tu luyện quả tình khôn ngoan

Tỏ ra bình thản nói rằng:

"Hại ta nào có dễ dàng vậy đâu

Hồ này thủng thẳng trước sau

Bầy ta uống hết ai nào cản ngăn!"

Quỷ bèn cất tiếng cười gằn:

"Sao ngươi làm chuyện khó khăn động trời!"

Nghiêm trang vua khỉ trả lời:

"Dùng tre làm ống hút thời dễ thay

Ống dài hút nước lên ngay

Chúng ta xa cách tầm tay mi rồi

Mi làm sao với tới nơi

Làm sao ăn sống nuốt tươi cả bầy?"

*

 

Từ trong quá khứ trước đây

Thật ra vua khỉ đã dầy công phu

Bao năm tu luyện thượng thừa

Cho nên tài giỏi dễ thua ai nào.

Tre thường từng đoạn nối nhau

Bên trong mỗi đoạn có đầu có đuôi

Mắt tre thành đốt ngăn đôi

Dễ gì mà hút nước nơi hồ này,

Phải nhờ vua khỉ ra tay

Thổi vào cho đốt rơi ngay ra ngoài

Thành tre ống rỗng và dài

Rừng tre theo đó tức thời rỗng ngay

Tám mươi ngàn khỉ quanh đây

Bẻ tre, uống nước hồ này cùng nhau.

Quỷ nhìn thấy nước rút mau

Khoanh tay bất lực, có đâu kịp ngờ

Sôi gan, bực tức, thẫn thờ

Trườn mình xuống dưới đáy hồ lặn luôn

Chỉ còn bóng nước chập chờn

Nổi lên như chở nỗi hờn oán than!

Từ ngày đó khắp nhân gian

Có loài tre mới trên ngàn rỗng không

Tre dài, đầu cuối suốt thông

Mắt cùng với đốt trong lòng biến luôn.

 

NHẬN DIỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT:
Vua khỉ là tiền thân Đức Phật.

Thủy quái là Đề Bà Đạt Đa

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE MONKEY KING

 AND THE WATER DEMON

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

____________________________________________________________

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/07/201620:02(Xem: 2520)
Mùa Hiếu Vu Lan lại về - Hân hoan chào đón tràn trề yêu thương- Ân Cha Mẹ quả vô lường- Công lao trời biển tỏ tường lòng con
23/05/201321:10(Xem: 1708)
Nhớ lại 50 năm trước: Đêm trăng tròn hoa ngát chín tầng mây, niềm vui chưa kịp nở Ngày Phật Đản hương bay ngàn cõi mộng, cảnh thảm đã hiện bày: Nào ngờ đâu thường kỳ vía Phật, lệnh chánh quyền triệt hạ Phật Giáo kỳ Xôn xao bừng dậy thấu đất trời, nổi lòng đau khôn tả cùng non nước.
08/03/201222:22(Xem: 3047)
Đôi khi rất đơn giản, Ta nghĩ sống làm người, Chết là coi như hết. Ngắn ngủi một cuộc đời. Vì thế ta sống vội, Chỉ biết ngày hôm nay, Không lo, không chuẩn bị Cho thế giới sau này. Không sợ luật Nhân Quả, Không biết vòng Luân Hồi, Ta buông xuôi, sống thả, Kiểu bèo dạt mây trôi. Không một lần tự hỏi, Không vương vấn trong đầu: Chúng ta từ đâu đến, Và chết sẽ về đâu?
18/10/201619:41(Xem: 1391)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
06/06/201707:13(Xem: 1553)
Việt Nam mưa nắng hai mùa Chiều về nhớ tiếng chuông chùa vọng vang Bao năm chinh chiến điêu tàn Lá xanh rụng trước lá vàng tiễn đưa .
01/08/201408:45(Xem: 5054)
Trùng trùng muôn sự vật Như chớp loé sương rơi Vỡ tan tành bọt nước Mong manh huyễn mộng đời
03/05/201201:21(Xem: 4431)
Ta lặng ngó nàng thơ vồn vã bước Lên đồi mây gối mộng ước sơn hà Ngày hun hút hiu buồn đành khép lại
15/10/201408:19(Xem: 4257)
Vang Vọng Nguồn Thương (tập thơ)
27/12/201506:26(Xem: 2788)
Có chàng lãng tử lưu lạc giang hồ từ thuở thiếu thời, bỗng một hôm nghe hung tin người cha già rời bỏ trần gian, lòng bồi hồi nhớ đến lời dặn dò năm xưa của cha, lời rằng, “Dù vui, buồn giữ mãi cái tâm trong.” Chàng lãng tử đó là nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du, một trong mười nhà thơ -- gồm Bạch Xuân Phẻ, Hàn Long Ẩn, Huyền, Nguyên Lương, Nguyễn Hoàng Lãng Du, Nguyễn Phúc Sông Hương, Nguyễn Thanh Huy, Phan Thanh Cương, Trần Kiêm Đoàn, và Tuệ Lạc -- có mặt trong tuyển tập thơ Tâm Trong vừa mới được nhà sách lớn nhất thế giới Amazon phát hành vào trung tuần tháng 12 năm 2015.
07/10/201622:11(Xem: 1794)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.