Thế Giới Ngày Hôm Nay (thơ)

25/10/201505:47(Xem: 15663)
Thế Giới Ngày Hôm Nay (thơ)
the gioi ngay hom nay


Thế Giới Ngày Hôm Nay
 
Những máy bay ném bom chiến lược tàng hình trông dễ sợ.
Những hỏa tiễn siêu thanh liên lục địa xé trời như sấm nổ.
Những tàu ngầm âm thầm dưới đáy biển mang đầu đạn hạt nhân.
Người ta bảo đó là những phương tiện giữ gìn hòa bình thế giới.
 
Rồi biết bao phi cơ tàng hình mang đầy hỏa tiễn.
F-22, F-16, F-35…
Những biệt kích, lực lượng đặc nhiệm mang đầy vũ khí ít người biết.
Trên không máy bay không người lái rình mò.
 
Rồi mẫu hạm hàng không với cả trăm phi cơ chiến đấu.
Tomahaw mà bắn đi thì hầm trú ẩn san thành bình địa.
Mọi mục tiêu thành đống gạch vụn điêu tàn.
Bệnh viện kia lơ mơ cũng ăn vài hỏa tiễn.
 
Bom áp nhiệt biến người thành cua rang muối.
Lính rô-bô ôi bộ máy giết người.
Trực thăng vũ trang quần nát cả bầu trời.
Người ta bảo đó là phương tiện xóa bỏ độc tài tiến hành dân chủ.
 
Ấy là chưa kể CBU đáng sợ.
Loại bom chùm, bom chấn động, bom bi.
Nổ tung ra đất ơi thành bãi mìn trải thảm.
Trăm năm sau, cánh đồng chết cho người.
 
Ấy là chưa kể bom hóa học, vi trùng giấu kín.
Thành phố kia thành bãi thịt bầy nhầy.
Người ta bảo đó,
Là ân huệ cách mạng màu dân chủ. 
 
Tôi cũng giống như ni cô ngồi tụng Kinh Cứu Khổ.
Đem từ bi cứu độ đến cho người.
Mà ngoài kia bao cô gái, than ôi:
Khoe tất cả hình hài nên giấu kín.
 
Lời kêu cứu của một linh hồn bé nhỏ,
Như lời kinh, như cái kiến, con sò.
Như nai vàng, như con thỏ ngu ngơ.
Nên chẳng một ai thèm để ý.
 
Nhưng giun dế vẫn cất lên tiếng hát.
Như tiếng hờn rên rỉ  giữa canh khuya,
Khi nhân loại ngủ mê.
Và lỗ tai khép kín.
 
Bạn ơi,
Chỉ hổ báo beo hùm, đại bàng mới có nanh có vuốt.
Giun kiến, nai tơ sao chế được đạn bom?
Làm gì có ngân sách quốc phòng?
Cho nên muôn đời bị người ta ăn thịt.
 
Tôi ngu ngơ và hỏi như bầy con nít.
Chốn thờ phượng kia vật trang trí cho đời?
Người van xin người nguyện ước những gì?
Sao tội ác cứ làn tràn thế giới?
 
Mới mười tuổi đã tham gia thánh chiến.
Chặt đầu người như một món đồ chơi.
Tuổi ngây thơ tuổi để mất đâu rồi?
Nay biến dạng thành yêu tinh khát máu.
 
Kẻ cuồng tín thích reo hò chiến thắng.
Nhờ thần linh thêm can đảm giết người.
Tim bằng gỗ chẳng bao giờ cầu nguyện:
Thần giúp tôi mai thành kẻ ngoan hiền.
 
Hãy “trực chỉ nhân tâm” (*), xin thôi đừng ngụy biện.
Càng văn minh càng gieo họa cho người.
Và xin dừng tay lại thế gian ơi!
Càng  tiến bộ càng gây thêm tội ác.
 
Nếu mai chết đầu thai sang kiếp khác.
Tôi chẳng ham quay  lại thế gian này.
Mà chỉ mong hồn sẽ biến thành mây.
Mây gặp lạnh mưa lành cho trái đất.

Đào Văn Bình
(California Tháng 10,2015)
 
(*) Bồ Đề Đạt Ma: Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 14968)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 16720)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 15290)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 15396)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 27444)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 54945)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 18731)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 13892)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 20728)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 16357)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,