Cây đèn hành khất (thơ)

06/09/201406:33(Xem: 16553)
Cây đèn hành khất (thơ)

den_cay_2

Thơ Tâm Tấn

CÂY ĐÈN HÀNH KHẤT

Hoa lửa gợn hương trầm
Gió Pháp dệt tơ hương
Đèn bạc nạm Long Lân Qui Phụng
Gấm vàng che rợp sắc Hoàng Vương
Cung Vua A-Xà-Thế
Rộn nghi lễ cúng dường
Hoa lửa Hoa đăng vạn ánh
Kính dâng lên Đấng Pháp Vương


Một túp lều tranh xiêu vẹo
Lão Bà hành khất bên đường.
Aùo bốn mùa tơi tả,
Cơm mỗi bữa đói thường.
Lang thang xin bố thí
Lòng nhân khách qua đường,
Hai đồng tiền giữ kỹ
-Quên thân đói còm xương,
Quên cơm thừa rổng bị,
Quên tủi hận chán chường -
Mua dầu thắp sáng cúng dường Như Lai.
Đèn Hàng Khất, đèn chai sứt mẻ
Chứa gia tài của kẻ bần nhân.
Vét vơi dâng một tấm lòng,
Ngọc đèn thành khẩn soi trong túp lều.
Lạy Từ Phụ ! tin theo Phật Giáo,
Con sống theo nếp đạo thiện lành.
Đường đời đau nếp nhân sinh,
Thân con cuối chợ đầu đình lê la.
Muốn cúng Phật : trồng hoa phước huệ
Công đức này mong để mai sau.
Cầu xin oai lực nhiệm màu
Nguyện cho đủ sáng đèn dầu suốt đêm

Sức chú-tâm linh diệu
Đèn phần phật cháy lên
Dầu thiêng không vơi cạn
Đẹp tới buổi bình minh

Đèn bạc nạm ngọc châu
Cung Vua tới Đế Thành
Suốt đêm tàn le lói
Quanh tịnh xá cung nghinh.

Phật dạy đức Kiền Liên Bồ Tát,
Bước đi tắt nốt các cây đèn !
Vách nghèo đèn vẫn bừng lên,
Ba lần thổi vẫn ánh đèn sáng trưng.
Thấy sự lạ, Ngài dùng chéo áo,
Mảnh cà-sa quạt đảo oai thần;
Lửa thiêng gặp gió thần thông,
Ngọn càng rực rỡ chiếu lòng Kim Cương.

Đức Phật tới ngăn đệ từ :
Ngọn đèn hành khất dị thường
Là ánh hào quang vị Phật
Tương lai chứng quả mười phương

Rồi giữa hoàng thành tráng lệ
Sau bao nghi lễ cúng dường,
Thọ Ký lão bà hành khất.
Chư tăng tán thán tâm hương

Đèn Hành Khất, Đèn Đế Vương
Phát ra ánh sáng cũng thường như nhau.
Tâm-Linh mới thật sang giàu :
Khung Kim-Cương để gồm thâu ý vàng.

(PHẬT ĐẢN 2508 - GIÁP THÌN 1964)




NGÁT TRẦM HƯƠNG

Tôi bước chân qua những phố phường
Bụi Trần uế tạp gót chân vương.
Lòng chưa nhận định niềm chơn giả
Cảnh Hý Trừơng hay bãi chiến trường.
Mây quấn non sông hận ngút trời
Nghìn năm oán khí vẫn chưa trôi
Danh Từ Dân Tộc ! Say binh lửa
Máu lệ càng thêm ngập biển Đời.

Quên hết ngoài kia rộn kiếp người
Cửa chùa ngăn Thế giới: Trong tôi
Trầm thơm, Trầm luyến, Trầm cao vút
Hồn đẹp, hồn thanh, hồn sáng ngời.
Lửa nến nghìn năm trưng ánh Đạo
Kế truyền đuốc Tuệ rọi tâm tư;
Đài sen dâng bệ nâng chân Thánh
Trí chạm thanh hương trí diệu từ.
Mõ ấm chuông ngân nhạc nhiệm mầu
-Lời Kinh chưa thuộc được trăm câu -
Nhưng tư tưởng niệm Nam Mô Phật,
Huyền diệu thoa êm những vết sầu.

Khi trở về: qua lại phố phường
Hoa Trầm Tam Bảo trí vương hương.
Lòng tôi đã định niềm Chơn, Giả :
Tất cả thời gian cuộc Hý Trường.

(Huế 1950)



CẢM NIỆM VU LAN

Nam mô Phật ! Hôm nay rằm tháng bảy
Cầu Thượng đài mở rộng Cửa Từ Bi
Xin Pháp Thuyền Bát Nhã Đức A Di
Chở muôn hướng oan hồn về dự lễ ;
Nam Mô Pháp ! theo hương trầm toả nhẹ
Dâng hồn thơm làm sớ nhập cung mây :
Chúng sinh từ vô lượng kiếp tới nay
Đường mê muội luân hồi trong lục đạo ;
Nam Mô Tăng ! Bể trần gây vũ bão
Thuyền sanh linh chìm đắm sóng mê lầm.
Đệ tử xin thọ pháp Bồ Đề Tâm,
Hương thanh khiết kết cùng Trầm tín ngưỡng.
Nhớ Phật dạy : Bao tài năng, đức tướng
Thảy mọi loài đều chẳng khác Như Lai,
Tất cả chúng sanh có đủ Trí, Tài.
Nhưng nghiệp chướng xoay quanh vòng điên đảo,
Nên không chứng Niết Bàn ngôi Tam bảo
Nghìn đời qua: lời Phật giáo uyên thâm
Oâi, vàng châu làm mất điểm lương tâm,
Kho tích đức chất đầy gươm hung bạo.
Tài đem dụng xây non xương biển máu
Rình rập giăng cuộc chém giết hung tàn,
Để tranh giành điểm thắng lợi vinh quang
Gieo ác quả và hái lầm Tiêu Diệt !

A Di Đà Phật mõ rền chuông nổi
Tôi đắm chìm trong thế giới Trầm Hương
Bỗng nghe vang lời cầu đảo bi thương,
Chợt tỉnh : lặng ngắm tín đồ Nam Nữ,
Đây là vợ khóc chồng đày xa xứ,
Đó là chồng khóc vợ Tử- biệt ly,
Cha có con khổ bịnh tới Quy Y
Cảnh quằn quại trong vòng Vô Lượng Khổ.

Trí vang ngân lời Kinh cầu siêu độ
Từng nhịp lòng Nhân Ái gởi theo chuông
Trong phút giây tôi sống giữa hai đường
Phật bất diệt và Trần gian tiêu diệt.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/10/2024(Xem: 5421)
Trầm luân mơ giấc dị thường Đi hoang một thuở tà dương quên về Phù trầm mương đá bờ kênh Khát khao mạch suối trên ghềnh chiêm bao Trùng khơi muối mặn gọi nhau Đồng khô ruộng phước nhuốm màu sân si
10/10/2024(Xem: 9517)
Tại núi Linh Thứu Mở hội Pháp Hoa Mọi giới chúng sanh Tề tựu câu hội Vạn vật hân hoan Khoe sắc ban hương Tâm thần an lạc Sẵn sàng nghe kinh
09/10/2024(Xem: 5209)
Tháng mười rồi mà thu vẫn lang thang Dường mặc kệ, hạ miên man khắp nẻo Lá xanh um và màu trời trong trẻo San Jose, nắng chọc ghẹo phố phường! Thu sắp tàn, hạ đỏng đảnh vấn vương Trưa đổ lửa rót niềm thương quá đỗi! Miền Đông Mỹ đất trời đang giận dỗi Như quê nhà còn chìm nổi nạn tai.
09/10/2024(Xem: 4757)
Thích Ca Mâu Ni Phật Luôn nhắc nhở chúng sinh Phải Từ Bi Hỷ Xả Với đời và với mình. Giáo lý này còn gọi Là Tứ Vô Lượng Tâm. Bốn Vô Cùng, Vô Tận Của Cái Tình, Cái Tâm.
08/10/2024(Xem: 7368)
Cung đàn núi lạnh biển im Trăng treo hạt muối thả chìm đáy sâu Cánh chim sà xuống bóng tàu Hôm qua vĩnh viễn Ngày sau tương phùng Nốt thăng bi mẫn lưng chừng
06/10/2024(Xem: 5260)
Nghiệp nhân lành kết từ ngàn năm trước Thuận duyên sinh tươi nở cõi ta bà Hoa trái thơm tho sắc màu rực rỡ Cúi đầu đảnh lễ cúng dường Quán Âm. Đây lời thơ của con tim chân thật Cảm nhận từ pháp vũ đạo nhiệm mầu Tâm tịnh an lạc vừa mới khởi đầu Rất thánh thiện nguồn cam lồ vô tận.
06/10/2024(Xem: 6767)
Pháp quốc khai giảng Bậc Kiên Trên zoom toàn thể Lam viên đủ đầy Lòng anh chị Trưởng vui thay! Nhìn các em học tràn đầy mến thương Tương lai trên những bước đường Cấy trồng Sen Trắng được vươn thêm cành.
03/10/2024(Xem: 5245)
Những lời vàng trong kinh điển chuyển sang PDF Luôn sống cùng, lớn lên theo mãi thời gian Từ sáng tinh mơ, ngồi chăm chú theo âm vang Những pháp thoại đến từ năm cũ hòa với hiện tại Lời động viên, giải đáp giúp nuôi dưỡng mãi Sống để hạnh phúc hay tồn tại, hãy tự tìm ra Làm sao cho những ý tưởng ác là gió thoảng qua, Tạo thêm nhiều điều thiện biến thành châu ngọc Con đường ấy chỉ phải là Nghe, Đọc Để rồi rưng rưng hai hàng giọt lệ tri ân
02/10/2024(Xem: 8838)
Nguyễn Bá Chung cùng quê hương đại thi hào Nguyễn Trãi. Một sớm tinh mơ nào, vào cuối thu 1949, nhà thơ mở mắt chào đời nơi vùng quê Định Giàng, Đại Đức, cách chân núi Chí Linh, Hải Dương một đường chim bay. Khoảng giữa năm 1954, mới vừa 6 tuổi đã vội vã chạy theo cha mẹ di cư vào Sài Gòn. Bản chất thông minh, học hành quá xuất sắc, nên được Đại học Brandeis cấp học bổng du học tự túc Hoa Kỳ (1971) và sống định cư luôn bên Mỹ, từ đó cho đến bây giờ.