Ngày Vu Lan Báo Hiếu

06/08/201406:17(Xem: 19034)
Ngày Vu Lan Báo Hiếu

Me-7

Ngày Vu Lan Báo Hiếu

Thoại Hoa

 

Mỗi người chúng ta được ở trên quả đất này là nhờ công sanh ra và công dưỡng dục của cha mẹ.

Trong dân gian VN có những câu ca dao bất hủ như:

Công Cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,

Một lòng thờ Mẹ kính Cha,

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con...

 

Từ xa xưa, từ thời tổ tiên cho đến ngày hôm nay, từ chốn quê đến thành thị, bổn phận làm con là phải biết yêu thương, kính hiếu cha mẹ.

Từ tạo thiên lập địa, chúng ta đã thấy Dương Âm tức là Trời Đất, người Cha tức Dương và người Mẹ tức Âm, chẳng khác nào ban ngày và ban đêm, nếu không có “Mẹ sanh, Cha dưỡng ” thì chúng ta không có ở cõi đời này.

Ca dao VN cũng có câu:

Có Cha, có Mẹ thì hơn,

Không Cha, không Mẹ như đờn đứt dây.

 

Câu ca dao này nhắc nhở chúng ta rằng, khi chúng ta được sanh ra cõi đời, mà mất cha lẫn mẹ thì khốn khổ vô cùng. Kể từ cấn thai cho đến ngày sanh nở, người mẹ phải mang nặng cái bào thai suốt chín tháng. Trong chín tháng cưu mang, sức khoẻ của người Mẹ càng ngày tiều tụy, vì ăn uống khó khăn, nôn ụa, rồi ngày tháng trôi qua, đến ngày nở nhụy khai hoa, phải đẻ đau, qua nụ cưòi...lẩn nước mắt. Người Cha, tuy không mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng luôn luôn ở bên cạnh để nâng đở tinh thần và chia xẻ đớn đau với người mẹ. Ai nấy cũng vui mừng khi thấy việc sanh đẻ được suông sẻ, tốt đẹp, “Mẹ tròn Con vuông”. Đôi khi cũng nguy hiểm đến tánh mạng người mẹ nếu sanh đẻ gặp sự khó khăn.

Khi con lọt lòng mẹ, cha liền đỡ đần mẹ, cha giúp mẹ lo cho con từ tấm tả, từ manh quần tấm áo, pha từng bình sữa, giặt giũ khi mẹ còn yếu sức sau khi sanh nở. Công Cha như vậy đó, công Mẹ như thế nào? Mẹ lúc nào cũng cận kề bên con, nhìn con trìu mến với bầu sữa mẹ, con đang bú ngon lành mỗi khi con khát sữa, trong suốt ba năm nhũ bộ. Mỗi lần con mọc răng, ngứa nướu, con cắn vú mẹ, đau điếng, nhưng mẹ cam chịu đau, mừng thầm và mắng yêu, hôn phớt nhẹ trên tráng con: “Con tôi đã mọc răng sữa rồi, mẹ sẽ mớm cơm cho con ăn” Phương pháp nuôi con khi xưa thì khi con được vài tháng, thì mẹ bắt đầu nấu cháo hoặc nhai cơm cho nhuyễn với chút rau, cá hay thịt, rồi mớm cơm vào miệng cho con ăn. Nước miếng của mẹ hoà cùng với thức ăn biến đổi thành một chất sinh hóa, cho dễ tiêu. Phương pháp xưa không hạp vệ sinh theo đời nay, nhưng nó đượm cả tình thương của mẹ dành cho đứa con. Nhìn cảnh này chẳng khác nào chim mẹ đang nuôi chim con vậy! Tấm tranh tuyệt vời không bút mực nào tả hết được! Công lao của mẹ nuôi con như trên, được dân gian truyền khẩu qua ca dao:

Con mẹ, có thương mẹ thay,

Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.

Cha mẹ sanh thành tạo hoá,

Nhai cơm, lựa cá, nhai cá lựa xương.

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.

Hay là:

Đố ai đếm được vì sao,

Đố ai đếm được công lao mẫu từ.

 

Mẹ lo cho con từ miếng ăn, giấc ngủ, lo lắng khi con mọc răng, ấm đầu... Đêm, mẹ dành nơi khô ráo cho con nằm ngủ:

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.”
Rồi ngày tháng trôi qua, con biết cười, biết lật, biết bò, biết ngồi, biết đi chập chững... hoà với tiếng cười mừng rở của cha mẹ khi thấy mỗi ngày con tiến bộ. Khi con đi học trường mẫu giáo, cha mẹ lo lắng đưa đón con đúng giờ, thật đúng với tục ngữ “ Cha đưa, Mẹ đón”. Tối thì dạy học cho con đánh vần, tập viết, tập đếm...

Công cha đối với con vô bờ bến như mẹ vậy vì cha mẹ mong muốn con sẽ thành người, hữu dụng với họ hàng, gia đình cũng như người ngoài. Lắm lúc cha phải lớn tiếng, la hét cho con sợ tuân lời, bởi vì chỉ có cha, con mới sợ đòn, chịu nghe lời dạy dỗ hơn mẹ, câu tục ngữ thường nói:

Mẹ đánh một trăm (*)

Không bằng cha hăm một tiếng.

 

(*) một trăm ở đây muốn ám chỉ nói 100 roi!

Hay câu:

Thương con cho roi cho vọt,

Ghét con cho ngọt cho bùi.

 

Tình thương của cha mẹ dành cho con thật bao la, vô bờ bến, mong mênh...như trời, như biễn cho đến ngày cha mẹ nhẹ bước về cõi Tây phương.

Khi con lớn khôn, công thành danh toại, cha mẹ còn lo dựng vợ gả chồng, rồi chưa hết đâu, có khi còn phải cực khổ với đàn cháu nhỏ, cháu nội, cháu ngoại nữa chứ!

Xét cho kỹ, công lao của cha mẹ đều ngang nhau, cho nên có câu ca dao:

Biết lấy chi đền đáp khó khăn,

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.

 

Nhân mùa Vu Lan báo hiếu, bổn phận làm con, không những kính hiếu dành riêng cho mẹ bằng một cánh hoa hồng hay hoa trắng, mà phải lẫn kính nhớ đến cha nữa. Bởi vì đừng quên:

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Hay là:
Con có mẹ như măng ấp bẹ

hoặc là:
Con có cha như nhà có nóc

hay là:

Còn cha gót đỏ như son,

Đến khi cha chết, gót con đen sì.

 

Hiện tại có nhiều chùa tổ chức lễ Vu Lan một cách công bằng cho cha mẹ, nghĩa là một đoá hoa hồng cho ai diễm phúc còn mẹ, hay cánh hoa trắng cài lên áo người vô phúc không còn mẹ, còn đối với cha một chiếc nơ màu xanh cho những người nào còn cha hay chiếc nơ trắng cho ai đã mất cha. Đây là một hành động công bằng cho cha lẫn mẹ vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, để các con tạ ơn sanh thành dưỡng dục sâu dầy của cha mẹ, nếu cha mẹ còn tại thế. Còn người nào khi cha mẹ đã khuất bóng, thì người con phải có bổn phận lo mồ mả, cung kính nhờ Chư Tăng Ni cúng kiến để tụng kinh nguyện cầu cho hương linh cha mẹ sớm được vãng sanh về cảnh Tịnh Độ.

Về Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca thường đề cặp đến chữ hiếu. Chữ hiếu, một pháp hạnh được đứng hàng đầu trong các kinh. Như kinh Vu Lan, Đức Phật mô tả nghiệp báo của mẹ Ngài Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề. Mặc dù Ngài Mục Kiền Liên đã chứng được thần thông, thấy suốt ba cõi, đi xuống tận âm tỳ, nhưng than ôi, Ngài cũng không thể tự mình cứu mẹ, mà phải nhờ sức đầy nghị lực của Chư Tăng sau ba tháng nhập hạ, chú nguyện cầu siêu, nhân ngày lễ Vu Lan Tự Tứ.

Noi gương ngài Mục Kiền Liên, đến ngày lễ Vu Lan, Phật tử thập phương tựu về chùa, để sám hối, tụng kinh để cầu an cho cha mẹ hiện tiền và cầu siêu cho cha mẹ quá vãng. Đấy là bổn phận của người con đối với cha mẹ, đúng với nghĩa Vu Lan Báo Hiếu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/08/2021(Xem: 8628)
Mãnh lực của Duyên ! Kính dâng Thầy bài thơ khi con học về Mãnh Lực của Duyên làm mình đi trong luân hồi qua bộ kinh Đại Phát Thú được Giảng Sư Thích Sán Nhiên giảng tại Mỹ vào tháng 6 /2020 online. Kính trình Thày những gì con thu nhận được qua hơn 10 video của Sư với 30 giờ nghe pháp thoại xen giữa những pháp thoại của Thầy. Kính xin Thầy cho con một lời dạy. Kính đảnh lễ Thầy , HH Niềm ao ước Mùa Vu Lan người người nhớ Đức Phật mùa an cư thứ bảy nhớ Mẹ Maya Cung trời Đao Lợi thuyết pháp... ...dựa vào chiêm nghiệm nhận ra Trăm ngàn thiên nhân đắc quả Dự Lưu tức khắc !
19/08/2021(Xem: 15004)
Hàng trăm sao chiếu sáng ngời Điểm tô rực rỡ bầu trời trên cao, Hàng trăm vỏ ốc dạt dào Cùng theo sóng biển trôi vào bờ xa,
17/08/2021(Xem: 12935)
Mây chiều tháng bảy lập lờ trôi, Góc nhỏ đêm về vẫn lặng côi… Quạnh quẽ Người xa niềm khó đổi, Trầm tư dạ não cảnh hoang bồi.
15/08/2021(Xem: 8995)
Hôm nay con học thỉnh chuông Dặn lòng mình phải buông đi muộn phiền Bỏ luôn những chuyện đảo điên Lòng thiền hiển hiện tâm hiền thường tu Tri ân Thầy đã công phu Dạy cho đệ tử nhân nhu tâm hòa
14/08/2021(Xem: 12607)
Gió Lành dịu tình phàm Xua: đoạt, thủ, hắc ám Trên hết Ta, của Ta Buông tham bạn Quí Tàm Xin làm Cơn Gió Mát Phả lòng ai đang sân Nhớ lời Thầy giảng Pháp Chỉ, quán lắng tâm thần Gió bão trời âm u Si Tâm cũng sa mù Không nhận ra sai đúng Tư, Kiến Hoặc thiên thu!
11/08/2021(Xem: 13015)
Lắng lòng nghe tiếng pháp âm Thượng tọa Nguyên Tạng tận tâm trao truyền Ngoài kia dịch bệnh triền miên Khẩu trang che mặt chẳng nhìn thấy nhau Vui thay phép Phật nhiệm màu! On- lai nghe pháp tìm cầu Thầy trao, Nói cười chia sẻ nhìn nhau Nương thuyền Bát Nhã mau mau tìm về Cùng nhau thoát khỏi bờ mê Tìm về bến giác, Tào Khê suối nguồn.
09/08/2021(Xem: 14903)
Tái ngộ lìa xa giữa nẻo nầy, Anh về cõi lạc ngắm đường mây. Dương trần mấy chặng mà thêm nản! Chuyện thế bao điều dẫu lả vây! Úc Đại nhà cao tình chẳng vãn, (*) Lồ Ô mái tạm nghĩa luôn đầy. (**) Bây giờ vạn nỗi nay đà gác, Rũ hết trầm luân cảnh Phật bày…
08/08/2021(Xem: 34747)
QUAN ÂM THỊ KÍNH Truyện Thơ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao Tranh Minh Họa: Hương Bối LỜI NÓI ĐẦU Truyện “Quan Âm Thị Kính” không rõ xuất hiện từ thời nào và do ai sáng tác ra. Thoạt tiên truyện là một khúc hát chèo gồm nhiều đoạn, với ngôn từ rất bình dị và tự nhiên, rõ ràng là một khúc hát của dân quê, của đại chúng. Về sau mới có truyện thơ “Quan Âm Thị Kính” xuất hiện, được viết bằng thể thơ “lục bát”, mang nhiều ý nghĩa thâm thúy của cả đạo Nho lẫn đạo Phật. Người ta phỏng đoán rằng tác giả chắc phải là một người có học thức.
06/08/2021(Xem: 10327)
Người về Tựa dáng dừa xanh Trời cao Đất rộng Biển tình mông mênh
06/08/2021(Xem: 8048)
Mệt nghỉ hơi đâu cố ráng hoài Không chừng mang tiếng đứa loi nhoi Lên non khấn ước gom cành lá Xuống phố cầu tìm nhặt bắp khoai