- Chén Trà Tào Khê (thơ)

12/07/201412:57(Xem: 53785)
- Chén Trà Tào Khê (thơ)


CHÉN TRÀ TÀO KHÊ

(Cảm tác sau khi bài giảng
của TT Nguyên Tạng tại Trường Hạ Quảng Đức nói về chén trà Tào Khê)



Việc đời buông xả còn vương,

Khóa tu chẳng kịp theo chơn mọi người.

Đêm đêm dưới ánh đèn mờ,

Mở trang Quảng Đức nghe thời giảng Kinh.

AN CƯ ý nghĩa thâm tình,

An dân , an nước, thái bình lân bang.

Hướng về Lục Tổ Huệ Năng,

Kim Cang nghe thoáng, tìm đàng xuất gia.

Huỳnh Mai Ngũ Tổ đâu xa,

Kim Cang thuyết giảng, canh ba độ đường,

Hãy nương những chỗ không nương,

Tâm hoàn thanh tịnh, nào vương não phiền.

Chợt Ngài đại ngộ hiển nhiên,

Ai ngờ tự tánh triền miên an bình.

Vô sanh, vô diệt , thinh thinh,

Lại sanh muôn Pháp tâm linh nhiệm mầu.

Giúp đời giải thoát, lạc an,

Ngài mang Y Bát, vượt ngàn, xuôi Nam.

Mười lăm năm quá nhọc nhằn,

Đến thời đắc Tổ, thuyên dần Thiều Quan.

Song Phong, ngọn núi, bạt ngàn,

Tào Khê nước chảy lượn quanh núi rừng.

Hoa Nam Tự ở lưng chừng,

Tào Khê nước ngọt thấm từng tim da.

Thêm trà gốc Tổ Đạt Ma,

Chén trà thơm ngọt danh gia tìm về.

Độ hàng Phật Tử còn mê,

Sớm mà giác ngộ không thì kịp đâu.

Xiển dương ĐỐN Ngộ nhiệm mầu,

Pháp tu chứng đắc chẳng cầu xa xôi.

Ngài đà viên tịch lâu rồi,

Nhục thân còn đó cho đời noi gương.

CHÂN PHÚC HÀ (SYDNEY)

Chen_Tra_Tao_Khe_20
















(Xem bài viết về chén trà Trà Khê)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/10/2016(Xem: 15190)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 18319)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 14134)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 11643)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 13476)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 14019)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 14549)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu
03/10/2016(Xem: 16094)
Đời người trong hơi thở Ra vào từng phút giây Thở ra mà không lại Là vĩnh biệt từ đây .
01/10/2016(Xem: 13247)
Ngồi thuyền Bát Nhã ngắm trăng Bát cơm Hương Tích trăm năm vẫn về Tào Khê trà uống bên lề Lăng Già sáng tỏ tứ bề không gian
29/09/2016(Xem: 14834)
Người về giữa chốn phù vân. Sông Hàn ngấn lệ khôn ngần tiếc thương. Người về chung cuộc vô thường. Không còn mưa nắng khói sương Bà Nà. Người về tiếng khóc vang xa. Là kinh động giữa ta bà khói mây.