- Chén Trà Tào Khê (thơ)

12/07/201412:57(Xem: 50443)
- Chén Trà Tào Khê (thơ)


CHÉN TRÀ TÀO KHÊ

(Cảm tác sau khi bài giảng
của TT Nguyên Tạng tại Trường Hạ Quảng Đức nói về chén trà Tào Khê)



Việc đời buông xả còn vương,

Khóa tu chẳng kịp theo chơn mọi người.

Đêm đêm dưới ánh đèn mờ,

Mở trang Quảng Đức nghe thời giảng Kinh.

AN CƯ ý nghĩa thâm tình,

An dân , an nước, thái bình lân bang.

Hướng về Lục Tổ Huệ Năng,

Kim Cang nghe thoáng, tìm đàng xuất gia.

Huỳnh Mai Ngũ Tổ đâu xa,

Kim Cang thuyết giảng, canh ba độ đường,

Hãy nương những chỗ không nương,

Tâm hoàn thanh tịnh, nào vương não phiền.

Chợt Ngài đại ngộ hiển nhiên,

Ai ngờ tự tánh triền miên an bình.

Vô sanh, vô diệt , thinh thinh,

Lại sanh muôn Pháp tâm linh nhiệm mầu.

Giúp đời giải thoát, lạc an,

Ngài mang Y Bát, vượt ngàn, xuôi Nam.

Mười lăm năm quá nhọc nhằn,

Đến thời đắc Tổ, thuyên dần Thiều Quan.

Song Phong, ngọn núi, bạt ngàn,

Tào Khê nước chảy lượn quanh núi rừng.

Hoa Nam Tự ở lưng chừng,

Tào Khê nước ngọt thấm từng tim da.

Thêm trà gốc Tổ Đạt Ma,

Chén trà thơm ngọt danh gia tìm về.

Độ hàng Phật Tử còn mê,

Sớm mà giác ngộ không thì kịp đâu.

Xiển dương ĐỐN Ngộ nhiệm mầu,

Pháp tu chứng đắc chẳng cầu xa xôi.

Ngài đà viên tịch lâu rồi,

Nhục thân còn đó cho đời noi gương.

CHÂN PHÚC HÀ (SYDNEY)

Chen_Tra_Tao_Khe_20
















(Xem bài viết về chén trà Trà Khê)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2016(Xem: 14426)
Sống chuyên tu Phật Giàu có như ai Hạnh phúc không cần Nghĩ đến ngày mai .
19/10/2016(Xem: 27409)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 12641)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 11526)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 12672)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 12033)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 13607)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 11406)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14961)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17510)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.