04. Đi Tìm Đức Phật

26/11/201319:22(Xem: 58318)
04. Đi Tìm Đức Phật
mot_cuoic_doi_tap_4

Đi Tìm Đức Phật


Đợi đến gần hết những tháng ngày nắng nóng vẫn không nghe tin tức gì, không thấy đức Phật trở lại, đại đức Ānanda đi tìm tỳ-khưu Sunakkhatta người Licchavī, đang là thị giả của đức Phật thì được tỳ-khưu Nāgita cho biết là Sunakkhatta đã bỏ đi rồi.

- Tại sao?

- Thưa, có lần y tâm sự: Tôi thỉnh thoảng được hầu đức Phật mà ngài chẳng dạy cho được một pháp gì cao siêu cả, chẳng được một chút thần thông, phép lạ vào cả.

Tôn giả Ānanda mỉm cười:

- Thôi, chuyện đó bỏ qua! Bây giờ tôi rất nóng lòng muốn đi tìm đức Phật, ông cùng đi với tôi cho vui nhé?

- Thưa vâng! Lúc nào tôi cũng nhớ đức Tôn Sư, luôn muốn làm thị giả cho ngài, luôn muốn được hầu cận ngài để được học hỏi và tu tập .

Thế rồi, hai người lặng lẽ ôm bát ra đi.

Đại đức Ānanda suy đoán:

- Tại kinh thành Sāvatthi (Xá Vệ) đã có trưởng lão Sāriputta cùng các vị tôn giả khác; thế là ở đấy đã có người thay mặt đức Tôn Sư để giáo giới học chúng. Vậy, có lẽ đức Đạo Sư không quành lại Bārāṇasī (Ba-la-nại) để đi lên Jetavana (Kỳ Viên) mà đi về hướng các xứ Kuru, Campā... rồi lên Māgadha (Ma-kiệt-đà) chăng?

Thế rồi, hai vị lầm lũi bộ hành về hướng đông nam. Đến xứ Kuru, nơi đức Phật đã dạy Tứ niệm xứ, đến thị trấn Kammasadhamma, nơi đức Phật hóa độ cho du sĩ Magandiya, đến thị trấn Thullakoṭṭhika, nơi đức Phật hóa độ chàng thanh niên con nhà cự phú xuất gia tỳ-khưu là Raṭṭhapāla để hỏi thăm chư tăng vùng này cũng không nghe tin tức. Cả hai vị đi mãi. Đến vương quốc Aṇga, thị trấn Bhaddiya, tại đây có gia đình vợ chồng triệu phú Dhanañjaya và Sumanā Devi. Đại đức Ānanda còn nhớ thân phụ của bà Sumanā là triệu phú Meṇḍaka có cô cháu ngoại Visākhā, năm ấy mới bảy tuổi mà đức Tôn Sư có tuyên bố là cô bé đã vào dòng! Rồi đến xứ Campā, một đất nước xinh đẹp được ân tứ của đức vua Bimbisāra, tại bờ hồ Gaggarā, nơi đây đức Phật đã hóa độ bà-la-môn Sonadanda cũng không thấy tăm bóng, không một thông tin nào. Thế rồi, hai vị đành phải trở lên kinh thành Rājagaha (Vương Xá).

Tại Veḷuvanārāma (Trúc lâm tịnh xá), chư tăng ở đây cũng đang xôn xao, lo lắng, chẳng ai biết về hành tung của đức Phật. Đại đức Ānanda trình bày cho đại chúng sự thật về câu chuyện bất hòa của hai nhóm hội chúng tại vườn rừng Ghositārāma, kinh thành Kosambī (Kiều-thưởng-di). Rồi sau đó là chư tăng ni, đức vua Bimbisāra (Bình-sa vương), thần y Jīvaka... cũng đến thăm hỏi ra chiều quan tâm, lo lắng.

Hai vị ở đây mấy hôm, rồi đi theo một lộ trình dài, vượt sông Gaṅgā ghé Vesāli, Videha, Vajjī, lên Mallā, Moriya, Koliya qua Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) ... Trên hành trình thiên lý ấy, đặc biệt khi họ được gặp các vị tỳ-khưu lớn như trưởng lão Assaji, Mahā Kassapa, Vappa, Yasa, Gayā Kassapa, Kāḷudayi... thì các vị thánh này chỉ mỉm cười và không ai nói gì, góp một ý kiến nào.

Thế là sau khi trở lại tịnh xá Jetavana (Kỳ Viên) trình bày mọi chuyện cho hai vị đại đệ tử hay rồi, họ an cư mùa mưa ở đây. Rồi tình trạng chư tăng ni, đức vua, triều đình, các đại phú hộ, trưởng giả, các gia chủ, hai hàng cư sĩ... cũng xôn xao, bàn tán, quan tâm, lo lắng cho đức Phật cũng tương tợ như ở tại Rājagaha (Vương Xá) vậy.

Tôn giả Sāriputta và thỉnh thoảng tôn giả Mahā Moggallāna vân du đâu đó trở về, cả hai vị thay nhau giáo giới đại chúng, tăng ni cũng như hai hàng cận sự. Việc đức Thế Tôn “mất tích”, hai vị phải nhiều lần giải thích, đại lược như sau:

- Một đức Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, bao giờ cũng mưu cầu đem lại lợi ích cho phần đông. Ngài giáo giới trời, người, chúng sanh các loại bằng thân, bằng khẩu và bằng ý cùng vô lượng phương tiện thiện xảo khác. Cho đến nỗi, ngài im lặng cũng giáo hóa, ngủ nghỉ cũng giáo hóa mà bỏ đi đâu đó cũng giáo hóa. Hai nhóm hội chúng tỳ-khưu cứng đầu, ngoan cố ở vườn rừng Ghositārāma tại Kosambī là ví dụ của trường hợp sau cùng, đức Phật đã dạy cho họ một bài học.

Ai đời chúng ta lại lo lắng chuyện này chuyện kia cho một bậc Xuất Trần Thượng Sĩ bao giờ!? Hành trạng của Người, chúng ta không thể tưởng nghĩ, suy luận, phỏng đoán như thế này, như thế kia được đâu. Đúng lúc, đúng thời, đức Thế Tôn sẽ trở lại thôi.

Mọi người an tâm.

Tuy nhiên, khi gặp riêng nhau, tôn giả Mahā Moggallāna nói với tôn giả Sāriputta:

- Có lẽ sau an cư, chúng ta nên đi đón đức Tôn Sư về đây chăng? Ai ai cũng nóng lòng trông đợi, cũng thấy thương cho họ!

- Chuyện ấy đúng - tôn giả Sāriputta gật đầu - nhưng chúng ta sẽ không đi!

- Tại sao?

- Sẽ bị đức Tôn Sư rầy la đấy!

Ngẫm ngợi một chút, tôn giả Moggallāna gật đầu đồng tình:

- Phải rồi!

Tôn giả Sāriputta mỉm cười:

- Vậy đức Tôn Sư sẽ rầy la như thế nào nào?

- Ngài sẽ “cảnh cáo” như sau: “Các ông làm cái gì vậy? Bổn phận và trách nhiệm của các ông là giáo giới các nhóm hội chúng tăng tục và đem đến lợi lạc, an vui cho họ, ai bảo các ông bỏ thì giờ để đi đón Như Lai? Các ông không biết việc gì đáng làm và việc gì không đáng làm sao? Các ông không biết việc gì là chính, việc gì là phụ sao? Vậy, cái tâm bất động của các ông để đâu? Cái tuệ bất động của các ông để đâu? Hãy để cho sự xôn xao, đón đưa, nghinh rước ấy cho chư phàm tăng và hai hàng cư sĩ họ làm! Các ông hãy ghi nhớ đấy! Đừng làm ‘mất mặt’ hội chúng thánh nhân của chư Phật ba đời!”

- Đúng là vậy! Tôn giả Sāriputta gật đầu - đúng là chúng ta sẽ bị “mắng” như vậy đấy!

Sau khi hội ý một hồi, cả hai vị nhất trí để việc này cho tỳ-khưu Ānanda đại diện đi đón đức Thế Tôn là hợp tình, hợp lý và đắc thế nhất. Cái tâm, cái tình của tỳ-khưu Ānanda, và cả thị giả Nāgita, đội nắng dầm sương, đường xa ngàn dặm, lặn lội đi tìm đức Đạo Sư không ai là không biết, không ai là không cảm động! Đấy không là bài học ngàn đòi hay sao?

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2096)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1971)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1671)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1621)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2128)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1623)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1306)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1555)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1833)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2432)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!