Tánh Không Luận Là Gì? (Bài viết của HT Tuệ Sỹ, do PT Diệu Danh diễn đọc)

31/05/201211:49(Xem: 31404)
Tánh Không Luận Là Gì? (Bài viết của HT Tuệ Sỹ, do PT Diệu Danh diễn đọc)
Hòa Thượng Tuệ Sỹ Toàn Tập

ht tue sy


TÁNH KHÔNG LUẬN LÀ GÌ?
Tuệ Sỹ
(I)



Bài viết của HT Tuệ Sỹ
do PT Diệu Danh diễn đọc












Aus der Erfahrung des Denkens
Martin Heidegger



Có thể vay mượn những lời như vậy để khởi đầu cho sự chờ đợi tiếng vọng đáp ứng của những gì đó đang ẩn mình trong bóng tối. Những lời được vay mượn ấy không nhất thiết phải là đồng thanh với những cái sắp đáp ứng. Sự tựu thành của những cái đáp ứng này sẽ không xuất hiện trong những tiếng động náo nhiệt. Đây là sự tựu thành của một cơn mưa như thác lũ, khi con bướm mùa hè đã chịu khép lại đôi cánh mỏng để lắng nghe trong thầm lặng hơi thở của cỏ nội. Chờ đợi; kiên trì và dừng lại trong sụ bế tắc của một thời chỉ có ánh sáng vĩnh cửu của mặt trời. Kiên trì và dừng lại để chờ đợi trong sự bế tắc là liều lĩnh thác mình cho một cuộc chơi ngoạn mục của thiên diễn, là liều lĩnh đứng lại giữa lòng thác đổ của vạn hữu. Đó là một thái độ bướng bĩnh, không chịu tiệm tiến từng bước vững chắc như những đợt nhảy của con chim hồng: nhảy bên bờ nước, nhảy đến tảng đá, nhảy trên đất cạn, nhảy lên cành cây, nhảy lên gò cao và cuối cùng bay trong thương khung để lông cánh làm đẹp cho bậu trời.(1) Chờ đợi trong sự bế tắc là những bước thụt lùi của con chim hồng, từ trên cành cây rơi trở xuống đất cạn(2). Từ trên cành cây rơi trở xuống đất cạn để chập chững như cưu mang một cái gì đó có vẻ ngược ngạo; đó là sự tiến tới bằng những bước thụt lùi, bởi vì thuận theo sự bế tắc. (3)

Mượn một kinh nghiệm tư tưởng để nói về một kinh nghiệm tư tưởng, đó là một sự vay mượn nghịch lý ngang ngược; vay mượn đã là một điều bất khả, mà nói về lại cũng là điều bất khả. Bất khả cho nên bế tắc. Bế tắc cho nên không tìm thấy một lối trung chính để vào tư tưởng(4).

Như thế là đã khởi đầu bằng một sự bất chính. Đằng sau sự bất chính này không có che dấu một ẩn nghĩa nào hết để biện minh cho nó. Nhưng, Tánh Không luận là gì? "Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn…"


(II)

Im Denken Wird jeglich Ding einsam und langsam. (M. HEIDEGGER)

Từ khi Nagàrjuna (Long Thọ) xuất hiện ở miền Nam Aᮍ độ, đến nay đã 18 thế kỷ qua, và suốt một vòng cung ba phần tư của toàn bộ Á châu, Tánh Không luận (Sùnyavàda) đã trở thành một thứ khí giới vô cùng sắc bén được trang bị cho một nền triết lý chuyên môn phá hoại. Với những kẻ chống đối nó, phá hoại là phá hoại. Nhưng những kẻ tán thưởng nó thì nói phá hoại tức là thiết lập. Với cả蠨ai, phá hoại là điều đáng sợ và nên tránh. Chính thực, Nagàrjuna đã cố ý binh vực cho một chân lý nào bằng khí giới Tánh Không luận? Người ta đã từng nghĩ, chính Tánh Không (Sùnyatà) là chân ly đó. Bởi vì鬠người ta có thể tìm thấy, với bằng chứng vô cùng xác thực của văn nghĩa, rằng chính Nagàrjuna đã coi phương tiện và cứu cánh là một. Nói cách khác, chính chân lý của Tánh Không tự bảo vệ lấy nó, tự binh vực cho chính nó, không một cái gì khác.

Những học giả hiện đại chuyên môn về Tánh Không luận với những đại biểu có thẩm quyền như T. R. V. MURTI, Ed. CONZE, J. MAY, và có thể kể thêm những vị ở ngoài lãnh vực chuyên môn này nhưng cũng được coi như là có thẩm quyền như STCHERBATSKY, J.TAKAKUSU, vân vân, đều đồng thanh công nhận Tánh Không luận như là Biện chứng pháp (dialectique). Những người đi sau, bám chặc vào danh từ này – Biện chứng pháp – để hiểu Tánh Không luận. Đó quả là một sự vay mượn vô cùng thận trọng. Người ta đã tìm được cho Tánh Không luận một sự đồng thanh tương ứng. Như vậy là "Nghìn tầm gởi bóng tùng quân,(5) tuyết sương che chở cho thân cát đằng".

Ed. Conze nói đến sự táo bạo của những hiền triết Đông phương là tư tưởng bằng mâu thuẫn. Bởi vì, chính luật mâu thuẫn cho phép người ta nói: phương tiện là cứu cánh, cứu cánh là phương tiện. Phá hủy trong phương tiện, nhưng lại là thiết lập trong cứu cánh. Phá hủy và thiết lập là mộ. Như thế hình như mâu thuẫn đối chọi với đồng nhất. Đây là lý lẽ mà ngươi ta hay dựa vào đó để phân biệt tính cách dị biệt của tư tưởng Đông phương và tư tưởng Tây phương. Người ta thường lý luận theo một tiêu thức điển hình nhất như sau: với Tây phương, ce qui est est, ce qui n'est pas n'est pas (của Parménid), đó là tư tưởng trên nguyên tắc đồng nhất; với Đông phương thì, Đạo khả đạo phi thường Đạo, danh khả danh phi thường danh (của Lão Tử), đó là tư tưởng trên nguyên tắc mâu thuẫn. Bởi vì, nguyên tắc mâu thuẫn như thế là dung nạp tất cả mọi tương phản, tất cả mọi cái không phải là nó, cho nên người ta nghĩ nếu công nhận rằng Đông phương luôn luôn tư t7ởng trên nguyên tắc này thì tư tưởng Đông phương lúc nào cũng có thể dung nạp được tư tưởng Tây phương với tất cả nhũng dị biệt của chính nó. Và ngược lại; vì nguyên tắc đồng nhất không dung nạp những tương phản. Nguyên tắc đồng nhất đưa đến chỗ đòi hỏi sự nghiêm xác của khái niệm. MerleauPonty: "Có cái gì đó không thể thay thế trong tư tưởng Tây phương: (…) sự nghiêm xác của khái niệm,…"(6)

Hình như chúng ta vừa đưa ra một tràng, ngắn, những lý luận có vẻ rất mạch lạc. Nếu nói cho chí lý, thì kiểu lý luận này là điều tối kỵ của các nhà Tánh Không luận, kể từ Aryadeva, xuống Buddhapalita, qua Bhavaviveka cho đến Candrakìrti (những truyền nhân của Nagàrjuna). Nhưng nói vậy cũng không được. Vì đó cũng chỉ một cách nói áp dụng luật mâu thuẫn một cách mạch lạc. Như vậy, chính mâu thuẫn đã phối trí thành một trật tự mạch lạc để cho mâu thuẫn là mâu thuẫn. Tức là, mâu thuẫn chỉ được thừa nhận như là mâu thuẫn thực sự khi người ta có thể tìm được mạch lạc của nó trong một trật tự nào đó. Bởi vì, nếu không có sự mạhc lạc giữa hững mâu thuẫn và không mâu thuẫn, làm thế nào ta nhận biết đó là mâu thuẫn?

Vậy thì, Tánh Không luận là gì? "trong tư tưởng, mọi sự trở thành cô liêu và lững thững."

(III)

Những vay mượn đã không thể tránh và những thành kiến nặng như chì cũng chưa thể từ bỏ được. "Những con cá lớn trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới nhỏ này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ nơi đây."(7) Người học về Tánh Không cũng như kẻ học bắt rắn bằng hai tay không.

Nagàrjuna là ai?

Những thiên tài lớn đều xuất hiện trong cơn thịnh nộ. Héraclite trong bình minh của Hy lạp với cơn thịnh nộ như những ngọn lửa tàn bạo; ông đã muốn tống cổ Homère ra khỏi những cuộc chơi chung bởi vì lời cầu nguyện của Homère muốn cho mối bất hòa giữa các thần linh và loài người hãy chấm dứt. Zarathoustra xuống núi,cùng với sự xuất hiện của Siêu nhân, sau khi đã nổi cơn thịnh nộ với mặt trời. Những con sâu con ngủ suốt cả một nùa đông để chờ đợi hững tiếng sấm đầu tiên của tiết kinh trập thánh hai. Nhưng, "Một khi sinh ra, họ muốn sống để rồi chịu đựng sự chết, hay để rồi đi tìm sự yên nghỉ. Và họ để lại những con cháu cùng chia xẻ số phận như vậy." (Héraclite) Những con sâu con chỉ trở mình trong giấc ngủ triền miên, còn phải đợi bao giờ cỏ cây nứt vỏ sau tiếng sấm của kinh trập rồi mới trổi dậy: giải chi thời đại hỉ tai! "Thiên địa giải nhi lôi vũ tác. Lôi vũ tác nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hỉ tai!" (quẻ Lôi Thủy Giải, Kinh Dịch).

Nagàrjuna xuất hiện như một con voi dữ trong truyền thống Phật học và tư tưởng triết học Aᮠđộ. Đương thời, đối với các nhà hiền triết Aᮬ Nagàrjuna được xếp vào hàng những tư tưởng gia Phật học lỗi lạc bậc nhất. Nhưng ngay trong hàng ngũ này. Nagàrjuna lại được kính trọng như một tên phá hoại đáng sợ. Người sợ đầu tiên có lẽ chính cao đệ của ông là Aryadeva. Ngay trong tên gọi đã có sự trái ngược. Cái tên Nagàrjuna ám chỉ cho một thứ rắn dữ. Bởi vì Nagà có nghĩa là rắn dữ. Nhưng Aryadeva lại hàm ý là một thiên thần thánh thiện. Hai thầy trò này, một con khủng long và một vị thiên thần, phải chăng là hai nếp gấp tư tưởng: Huyền chi hựu huyền.

Nhiều huyền thoại đã được dựng lên chứng tỏ rằng đã có nhiều phép lạ hiện ra để hạ bớt thái độ ngông cuồng của Nagàrjuna, khi ông quyết định bỏ cả núi cao, cả rừng rậm và cả đất liền để xuống biển cư ngụ cùng loại rắn dữ(8) . Như vậy người ta mới có đủ lý do để xác nhận rằng ông quả là một tư tưởng gia Phật học khi ông chịu nghe theo lời khuyến cáo của vua rắn mà trở lại đất liền. O⮧ quả thực là một tư tưởng gia Phật học chính thống. – bởi vì chính thống cũng hảm ý là ngoan ngoãn mặc dù lối xử sự của ông đôi khi có vẻ ngược ngạo.

Từ lúc mà Nagàrjuna trở lại đất liền, nhiều vấn đề trong truyền thống Phật học và nền minh triết AᮠĐộ được đặt lại: Tánh Không luận là gì?

Dường như có một sự lửng lơ và bất khả nào đó; lửng lơ như chính đời sống và bất khả như chính tư tưởng, Nagàrjuna từ sương mù của bình minh và nắng quái.

Yathà màyà tathà svapno gandharva-nagaram yathà tathospàda tathà sthànam tathà bhanga udàhritah.

Như quáng nắng, như giấc mộng, như thành phố giữa sa mạc: tất cả sự hiện khởi, tồn tục và biến mất đều như vậy.(9)

(IV)

Trong Đại tạng kinh Trung hoa, được ấn hành dưới sự điều khiển của J. TAKAKUSU, một học giả Phật học người Nhật, có một tác phẩm dứt đoạn mang tựa đề là Lão tử hóa Hồ kinh, được xếp vào loại những tác phẩm ở bên ngoài Phật học (Ngoại giáo bộ, DTK. 2139; tập 54; tr. 1266 và tiếp). Tác phẩm đứt đoạn này nói Lão tử cưỡi trâu bỏ xứ Trung hoa đi về phía Tây bắc và giao hóa cho những giống dân man di ở phương này. Môn đệ lớn nhất của ông là Thích ca. Đó là một sự lửng lơ của huyền sử và cũng là một điều bất khả của tư tưởng. Nhưng, mười thế kỷ sau, một người vì kính trọng Nagàrjuna mà phải từ bỏ quê hương của mình để sang cư ngụ và chết ở Trung hoa. Đó là Kumarajiva. Cái tên này lại ám chỉ cho sự trường thọ của trẻ thơ.(10) Có lẽ Nagàrjuna hóa thân làm Lão Tử tại đất Tàu để nói cho một phân nữa Á châu nghe lại cái diệu chỉ "huyền chi hựu huyền" trong câu hỏi "Tánh Không Luận là gì?"

Và như thế, trước câu hỏi "Tánh Không luận là gì?", nhưng vay mượn đã không dễ gì tránh khỏi và những thành kiến cũng chưa dễ gì từ bỏ được:
"Cũng ví như một người đánh cá lành nghề hay người học đánh cá vung lưới trên mặt hồ nước nhỏ này với một tấm lưới có mắc lưới sít sao. Người ấy nghĩ: Những con cá lớn trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ nơi đây."

Đó là những lời kết luận của kinhBrahmajàla-sutta. Và kinh chấm dứt như thế này:

Imasmim ca pana veyyàkaranasmim bhannamane sahasi loka-dhàtu akampitthàti. "Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động,"



Chú thích:

1) Thứ tự của sáu hào trong quẻ Phong Sơn Tiệm của Kinh Dịch: sơ lục, hồng tiệm vu can; lục nhị, hồng tiệm vu bàn; cửu tam, hồng tiệm vu lục; lục tứ, hồng tiệm vu mộc; cửu ngũ, hồng tiệm vu lăng; thượng cửu, hồng tiệm vu quì.
2 ) Hào cửu tam và hào lục tứ của quẻ Phong Sơn Tiệm đảo ngược thành hào lục tam và cửu tứ của Thiên Địa Bĩ. 3 ) Quẻ Thiên Địa Bĩ: lục tam, bao tu; cửu tứ, hữu mệnh.
4 ) Quẻ Thiên Địa Bĩ: Bĩ chi phỉ nhân (…) Thiên địa bất giao nhi vạn bất thông dã.
5 ) Và đây cũng là một đồng thanh tương ứng: "Đời vốn như thế. Ban đầu vào cuộc sống, chúng ta giàu, giàu nhiều, giàu nữa; trong bao năm, chúng ta trồng cây tỉa hột, nhưng gnày tháng trôi, năm sầu lại: thời gian phá vỡ mất công trình; cây rừng bị chặt; bạn hữu từng người rơi rụng xuống. Bóng tùng quân nghìn tầm xiêu đổ, cái con người trơ trụi sẽ còn nghe rõ trong hoang liêu mối ngậm ngùi xuân xanh xa mất." (Saint-Exupéry, Cõi Người Ta, Bùi Giáng dịch).
6 ) "II y a quelque chose irremplacable dans la pensée occidentale: (…), la rigueur du concept,…" (MP. Signes, Gallimard, p. 174)
7 ) Trường bộ kinh, kinh phạm võng (Brahmajàle. Sutt); T.T. Minh Châu dịch.
8 ) Viết phỏng theo "Long Thọ Bồ Tát truyện" của Kumarajiva D.T.K. 2047; tập 50, tr. 184 và tiếp.
9 ) Nagàrjuna, Madhyamika – Kàrikà, VII, 34.
10 ) Đồng Thọ, cũng mường t7ợng như chữ Lão Tử.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/07/2021(Xem: 10078)
Tâm lệch lạc sống đảo điên nghiêng ngã Tâm dối lừa thì đời sống bất an Tâm ghét ghen sống hận thù chất chứa Tâm tham lam đốt Huệ Mạng rụi tàn Tâm đặt trên ngực để yêu thương và: Đặt trên tay mà đở đần người khác Đặt vào mắt nhìn nổi khổ tha nhân Tâm trên chân chạy đến ai cùng khổ Tâm trên môi an ủi bất hạnh cần Tâm ở tai biết nghe lời than trách Chấp nhận lời góp ý của mọi người Tâm đặt trên vai biết mình trách nhiệm
30/06/2021(Xem: 13777)
Kính SP, cùng chị nhà Hạnh Giải, Pt Quảng An gởi bài thơ Cảm Tác Tưởng Niệm Nhà Thơ Tánh Thiện ra đi tròn năm chia sẻ đến cùng chư vị, chư Thi nhân và chuyển đến chị nhà Hạnh Gỉải ( cách đây chị có báo chị qua Cali lo việc Hồi Tự cho Tánh Thiện ). QA với tấm lòng quí thương trân trọng chia sẻ cùng chị và đôi bên gia quyến niềm phân ưu Bạn Thơ nơi "Cõi Thong Dong" Xin mời chấp bút họa dòng thơ hay Trước kia nhớ lời dạy Thầy Cùng nhau thêu dệt hăng say điệu vần
30/06/2021(Xem: 13415)
Kính dâng Thầy bài thơ khi biết được bao người vẫn âm thầm miệt mài phụng hiến cho đại chúng trong nhiều phương diện mà không nhận được một lời tán thưởng vì dường như càng ngày nhân loại càng kiệm lời cảm ơn !!! Kính chúc sức khỏe Thầy , HH Có đôi lúc ...khi nhận cảm ơn ấm lòng chi lạ ! Dù biết rằng... chi mà khách sáo đáp đền Nhưng ...thân ái tương quan dần mãi tăng thêm Tựa như khi cỗ vũ lực sĩ ... mau đến đích ! Cũng thế ... Tình người thật trân quý giữa thời đại dịch ! Hãy trao nhau lời thân thiết cảm ơn Khi hợp tác không thuận ý ...cắt bớt giận hờn Chút vị kỷ cô đọng lại từ bao đời tập khí ! Biết bao người đang miệt mài hoàn thành thiện chí ! Trên con đường phục vụ mọi chúng sinh Từ khoa học, nhân văn, truyền thống tâm linh Xin khuyến khích ... đừng thờ ơ lời tán thưởng Bạn ơi ! Trong tĩnh lặng tiếng vang càng âm hưởng Phong tỏa giản cách ... khích lệ nhau cần trưởng dưỡng ! Đừng đợi nghe ai tin đến ...chia buồn nhớ tưởng !! Huệ Hương
27/06/2021(Xem: 13681)
Chúc mừng Du sĩ Tâm Nhiên DIỆU TÂM CA tựu thành thiên thơ vàng. Mười năm vô trụ lang thang Hoa tâm nở khắp chùa đàn thập phương Rượu bầu thơ túi hành hương Rong chơi ngựa sắt hoang đường Bắc Nam Chẳng nâu sòng, chẳng già lam DIỆU TÂM CA ngát hương trầm thiền môn! Ngần ngần thơ tụng Thế Tôn Bài ca Diệu Pháp xanh hồn vô biên! Chúc mừng Thi sĩ Tâm Nhiên Trường ca lục bát Lẽ Huyền Ngôn Không DIỆU TÂM CA mịch mịch hồng Trăng sao rực sáng cánh đồng Như Lai.
27/06/2021(Xem: 12576)
Mất thì giờ mấy chuyện không đâu Sao không thưởng thức Đạo nhiệm mầu Còn bao hữu ích cần thu thập Phát huy sở học mới thâm sâu! Email chỉ đánh cười "hi hi" Hành hoạt trượng phu cái kiểu gì?! Chuyện đà meo mốc cho bùng khí Hiện tại không màn việc liễu tri Chấp không chấp có rơi nhị thuyết Học Phật biết rõ: thực dụng quyền Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt tu Pháp chấp Viên Giác Trí màu thật uyên nguyên
26/06/2021(Xem: 16182)
Chào hội ngộ bình an sau đại dịch Những hoa sen hồ tịnh bốn phương trời Ta về đây cùng nhau chung vui Dây thân ái trăm năm tình vẫn mới Chào tám hướng những Gia Đình Phật Tử Ta Đoàn Áo Lam tiến bước lên đường Tiếng hát họp đoàn bốn phương mùa hội cũ Vọng âm hoài sao mãi quá thân thương Thầy giáo hạnh, bác gia trưởng, đàn chị, đàn anh Những oanh vũ thiếu niên cùng thiếu nữ Vững tinh tấn sân chùa Bi-Trí-Dũng Vẫn hạnh lành dòng lịch sử sang trang Những mái đầu một thuở sen xanh Đường thế hệ giao mùa chừ bạc trắng Bao người cũ đã đi vào im lặng Hoa vô ưu hạnh ngộ nở trên cành
25/06/2021(Xem: 11837)
Bình minh thức dậy thưởng thiền trà Lặng lẽ hiên chùa mây trắng qua Hớp ngụm trà thơm tai lắng tiếng Ngửi làn khói mỏng mắt nhìn hoa Tinh thần khoan khoái nghe Viên Giáo Ý chí thảnh thơi ngắm Phật Đà Vạn vật vô thường bong bóng nước Vườn thiền hoa nở hạt sương sa…!
23/06/2021(Xem: 14777)
Khi kiếp người bạn thấy lòng chán nản Thì tìm Phật cảnh giới nào bạn ơi ! Chuyện ghét thương va chạm giữa cuộc đời Cũng là Phật nơi con người chưa tỉnh Hãy thiết tha giữ tâm mình chân chính Để yêu thương từng bản tính con người Sống vươn lên vun vén mỗi nụ cười Là hoa Phật nở giữa đời phiền trược Nhìn mây trôi lững lờ qua bóng nước Hoặc con đò ngược gió lướt mái nghiêng Giữa đêm khuya chiếu diệu mảnh trăng hiền Thể tánh nước vẫn bình nguyên thanh tịnh
22/06/2021(Xem: 11495)
Những Bài Thơ Vu Lan của Cư Sĩ Hạnh Phương Dương Kim Bính
22/06/2021(Xem: 14341)
Mùa đông xứ Úc Bãi biển vắng tanh Những con cô vít ẩn mình lấp ló Những ngọn sóng xanh Vẫn lả lướt những điệu nhảy thướt tha Những chú chim vẫn tròn con mắt nhỏ Những chú cò vẫn lẻ loi trên bãi đá kiếm ăn Thập niên hai mươi Con người giết nhau không bằng tiếng súng Khi nỗi kinh hoàng không vọng tiếng đạn bom Khi những thê lương không đổ nát hoang tàn Khi người với người nhìn nhau dè chừng khoảng cách