Tuyển tập 67

28/11/201113:14(Xem: 19627)
Tuyển tập 67

TUYỂN TẬP THƠ MẶC GIANG

Tuyển tập 10 bài - thơ MặcGiang - 67

(Từ bài số 661 đến số 670)

(Ghi chú : từ 641 đến 700là toàn bộ Tỉnh, Thành nước Việt Nam)

Hà Namquê tôi 661

Nhớ về Hà Nội 662

Hà Tây quê tôi 663

Hà Tĩnh quê tôi 664

Hải Dương quê tôi 665

Hải Phòng quê tôi 666

Hòa Bình quê tôi 667

Hưng Yên quê tôi 668

Khánh Hòa quê tôi 669

Kiên Giang quê tôi 670

Hà Nam, quê tôi

(TX Phủ Lý)

Tháng3 – 2007

Aivề thăm đất Hà Nam

SôngHồng, Sông Đáy, Châu Giang nối bờ

Điqua Phủ Lý nên thơ

Viếnglàng Ninh Thái, thờ Lê Đại Hành

UngLiêm, thờ Đinh Tiên Hoàng

Hailàng quyện khói Đinh – Lê thuở nào

KiệnSơn, chân núi thì sao

BồngNga lấn thế, vua Trần dấu đây (1)

Viếngthăm Kim Bảng, chưa khuây

ChùaBà Đanh, ở chốn nầy, hay sao (2)

DuyTiên, nằm ở trên cao

BìnhLục, dưới thấp xạc xào gió bay

LýNhân, anh ở bên này

ThanhLiêm em đó, cỏ cây tươi màu

Bụimờ xơ xác bờ lau

Hà Nam tađó, biển dâu không sờn

Đávàng thử mấy sắt son

Taluôn thương nhớ, vẫn còn Hà Nam.

(1)Vào năm 1384, nước ta bị Chế Bồng Nga sang đánh, NhàTrần núng thế, phải đem châu báu giấu ở dưới chân núi Kiện Sơn này.

(2)Thật ra là Chùa Bảo Sơn, huyện Kim Bảng. Chùa tọa lạcsâu trong vùng đồi núi và thung lũng bên bờ Sông Đáy. Trong chùa có thờ tượngmột người đàn bà tên là Bà Đanh, có công gìn giữ ngôi chùa này. Xưa kia, vùngnày có nhiều thú dữ, rất ít khách vãng lai, họa hoằn một năm đôi lần nhưng phảikéo nhau thật đông mới được. Còn bình thường thì chùa Bảo Sơn vắng ngắc. Nhưngngười ta ít gọi vắng như chùa Bảo Sơn, mà thường gọi vắng như chùa Bà Đanh. Vôtình trở thành một câu tục ngữ thông dụng hơn các câu tục ngữ, tuy không biếtcó Chùa Bà Đanh không và ở đâu, chính thị có thật và ở đây rồi.

Nhớ về Hà Nội

Tháng 3 – 2007

Hà Nội, mến yêu ơi

Ngàn năm văn vật, trên nướcnon mình

Hà Nội, mến yêu ơi

Cái nôi dân tộc, kết vạn nẻođường

Giòng giống Tiên Rồng, mộtcõi quê hương

Hà Nội mến yêu, ba sáu phốphường

Vang khắp đất trời, muôn vạnyêu thương

Mặt Hồ Gươm lung linh mâytrời

Mặt Hồ Tây xanh biếc tuyệtvời

Hồ Trúc Bạch lượn màu thanhkhiết

Hồ Đống Đa gương chiếu rạngsoi

Ôi Văn Lang, tiếng nói hồnthiêng

Ôi Hùng Vương, quốc tổ Việt Nam

Ôi Thăng Long, kinh đô trời Nam

Ngàn xưa huy hoàng, ngàn saurạng rỡ

Thanh Trì, lại nhớ Thanh Xuân

Đống Đa, lại nhớ Bà Trưng

Ba Đình, băng qua Cầu Giấy

Từ Liêm, bắt mạch Tây Hồ

Anh ở Gia Lâm, tôi bờ HoànKiếm

Em đi Đông Anh, tôi về SócSơn

“Dù cho nước chảy đá mòn”

Ngàn năm văn vật, vẫn cònthênh thang

Hà Nội ơi, dấu xưa còn đó

Hà Nội ơi, ba sáu phố phường

Thủ đô non nước của mình

Thủ đô tổ quốc Việt Nam.

Hà Nội ơi, Hà Nội ơi !!!

Hà Tây, quê tôi

(TX Hà Đông, TX Sơn Tây)

Tháng 3 – 2007

Nhớ tỉnh Hà Tây thật mếnthương

Bức tranh trần thế quả khônglường

Danh lam thắng cảnh trêu nămtháng

Nữ kiệt anh hùng rạng bốnphương

Ngô Quyền, Bố Cái, nhớ Ba Vì

Núi Tản, Sông Đà, tiếc MỵNương

Mỹ Đức kỳ quan, thăm HươngTích

Hát Giang trầm mặc nhớ TrưngVương

Kìa, em chiếc áo lụa Hà Đông

Kìa, anh cốt cách ở Sơn Tây

Hoài Đức, Ứng Hòa, Phúc Thọđó

Phú Xuyên, Chương Mỹ, ThườngTín đây

Hà Tây quê tôi,

Quốc Oai, Thanh Oai vờn sắcthể

Thạch Thất, Đan Phượng, lượntứ thân

Không riêng áo lụa Hà Đông ấy

Mặc khách phong trần đãi thếnhân

Hà Tây anh đi

Hà Đông em đợi

Hà Tây đâu rồi

Áo lụa Hà Đông.

Hà Tĩnh, quê tôi

(TX Hà Tĩnh, TXHồng Lĩnh)

Tháng 3 – 2007

Đi về Hà Tĩnh, nhớ gì khônganh

Đi về Hà Tĩnh, nhớ gì khôngem

Cánh đồng muối trắng, da nắnghoen vàng

Tình sâu nghĩa nặng, biển nhớmênh mang

Nhớ Thạch Hà, nhớ về Hà Tĩnh

Nhớ Nghi Xuân, nhớ dòng SôngLam

Thương Hồng Lĩnh, thương quaCam Lộc

Thương Đức Thọ, thương quaHương Sơn

Hương Khê thương nhớ Vũ Quang

Cẩm Xuyên - Kẻ Gỗ, Kỳ Anhkhông sờn

Lại còn thương nhớ Hoành Sơn

“Hoành Sơn nhất đái”, keo sơnmuôn đời

Qua Đèo Ngang, nhớ về BàHuyện

Bà Huyện Thanh Quan, với VịnhĐèo Ngang

“Dừng chân đứng lại trời nonnước

Một mảnh tình riêng ta với ta”

Đi về Hà Tĩnh, còn nhớ không anh

Đi về Hã Tĩnh, còn nhớ không em

Đèo Ngang bên đó, Sông Lam bên nầy

Tình sâu nghĩa nặng nào khuây

Nhớ về Hã Tĩnh, đong đầy tình ta.

Hải Dương, quê tôi

(TP Hải Dương)

Tháng 3 – 2007

Quê tôi ở tỉnh Hải Dương

Có nhiều sông rạch, ruộng vườn tốt tươi

Lúa vàng, reo nắng mỉm cười

Đồn điền, đón gió mở lời hoan ca

Trồng chè, bông vải, cà phê

Ngô, khoai, đậu, sắn, và dâu nuôi tằm

Bình Giang liền với Cẩm Giàng

Kế bên Thanh Miện, Ninh Giang, Tứ Kỳ

Thanh Hà, Gia Lộc ta đi

Kim Thành, Nam Sách thầm thìbên sông

Bước qua để nhớ Kinh Môn

Ghé thăm Kiếp Bạc, gợn hồnChí Linh

Đền thờ Hưng Đạo thánh minh

Ba phen đại thắng Nguyên Môngkinh hoàng

Kiếp Bạc vách núi thành đồng

Góp phần giữ nước như sôngThái Bình

Hải Dương non nước quê mình

Nhớ bông dệt vải, nhớ tằm ươmtơ

Đi đâu cũng nhớ thương về

Hải Dương còn đó câu thề nămxưa.

Hải Phòng, quê tôi

(TP Hải Phòng, TX Đồ Sơn)

Tháng 3 – 2007

Hải Phòng phố cảng mênh mông

Nguyên Vịnh Bắc Bộ, biển đôngnơi này

Hải Phòng năm cửa sóng lay(1)

Bức tranh thủy mạc tô bày ĐồSơn

Đồ Sơn lại nhớ Sầm Sơn

Còn kia kiều diễm Hạ Longtuyệt vời

Biển đông như đã đón mời

Bước đi chạnh nhớ Vũng Tàu,Nha Trang

Trở về thành phố Hải Phòng

Thành phố kỹ nghệ, kinhthương quê mình

Mười hai quận huyện thênh thênh

Mỗi nơi một vẻ như mình vớita

Nhắc qua Cát Hải, Cát Bà

Nằm riêng ốc đảo mặn mà biểnkhơi

Hải Phòng tôi đó ai ơi

Khi ra Bắc Bộ đừng quên HảiPhòng

Bao phen chiến thắng ngoạixâm

Bạch Đằng dậy sóng, bạt hồnBắc phương

Bao phen xâm thực Tây Phương

Bắc Bộ dậy sóng tư lường hồnai

Cũng đừng ngấm nghé ngày mai!!!

(1) Sông Thái Bình chạy racửa Thái Bình. Sông Văn Úc chạy ra cửa Văn Úc. Sông Lạch Tray chạy ra cửa LạchTray. Sông Cửa Cấm chạy ra Cửa Cấm. Sông Bạch Đằng chạy ra cửa Nam Triệu.

Hòa Bình, quê tôi

(TX Hòa Bình)

Tháng 3 – 2007

Quê em ở xứ Hòa Bình

Lắng nghe em kể xứ mình chonha

Quê em rừng núi không hà

Một con sông chính, Sông Đàxinh xinh

Đổ vào hồ lớn Hòa Bình

Nước ăm ắp nước, băng mìnhchảy đi

Chảy đi còn nhắc thầm thì

Muốn tìm bóng nước, bước quaSông Hồng

Người Mường sống thật là đông

Xen lẫn người Thái sớm hômvui vầy

Người Kinh cũng kéo lên đây

Chan hòa êm ấm đong đầy tìnhca

Lạc Sơn trông vẻ thật thà

Kỳ Sơn kết nghĩa mặn mà LươngSơn

Yên Thủy, Lạc Thủy không sờn

Tân Lạc, Đà Bắc trăng vờn vensông

Mai Châu e ấp ngóng trông

Cao Phong tao nhã mến lòng Kim Bôi

Như trăng nghiêng nửa lưng đồi

Như sao nhấp nháy ngỏ lời xa xa

Hòa Bình em đó, thật mà

Có ai muốn biết, ghé qua Hòa Bình

Bờ cây khép lá lưu hình

Núi rừng bỏ ngỏ tự tình non cao

Biết đâu, xin hỏi trăng sao !!!

Hưng Yên, quê tôi

(TX HưngYên)

Tháng 3 – 2007

Hưng Yên em ở Trung Châu

Chạy từ Sông Luộc nhập lưu Sông Hồng

Hưng Yên em toàn đồng bằng

Nhiều con sông rạch ngập ngoằng đi qua

Em không nói tiếng kiêu sa

Nhất Kinh Kỳ, nhì Phố Hiến, thật là quê em

Văn Giang sánh bước Văn Lâm

Khi qua Kim Động, nhớ thầm Ân Thi

Mỹ Hào, Yên Mỹ thầm thì

Khoái Châu trăng vợn, nhớ gì đêm thâu

Hỏi nàng Tiên Lữ về đâu

Phù Cừ lên tiếng đã lâu lâu rồi

Hưng Yên em đó, ai ơi

Bên thời Hà Nội, bên thời Hà Đông

Bên thời áo lụa phơi sông

Bên thời áo gấm giữa dòng thành đô

Hưng Yên, một thoáng xa mơ

Thôi, không đi nữa, trở về Hưng Yên.

Khánh Hòa, quê tôi

(TP Nha Trang, TX Cam Ranh)

Tháng 3 – 2007

Ai có về Nha Trang

Miền thùy dương cát trắng

Giữa trời mây xanh biếc

Mênh mông rải nắng vàng

Khánh Hòa, quê tôi đó

Gom vẻ đẹp thiên nhiên

Tranh thêu, còn thiếu nét

Hoa gấm, còn thiếu duyên

Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Vạn Ninh

Đẹp thay Diên Khánh, vẹn tình Trường Sa

Ninh Hòa, ân nghĩa thiết tha

Cam Ranh mây nước mặn mà thùydương

Trông xa ra biển điệp trùng

Cầu Đá, Hòn Yến, gọi hồn HònTre

Nha Trang, em có nghe

Vỗ về, sông Bến Cát

Khói tỏa, hồ Đá Bàn

Sương phủ, đầm Nha Phu

Dốc đá, in hình soi sóng vỗ

Triền đồi, bóng nguyệt lộngtrùng dương

Nha Trang sơn thủy hữu tìnhđó

Tình nhớ, thương tình, vạnnhớ thương.

Kiên Giang, quê tôi

(TX Rạch Giá, TX HàTiên)

Tháng 3 – 2007

Kiên Giang quê tôi, sông nướcđôi bờ

Ai đi có nhớ, ai về có thương

Một dòng bên đục bên trong

Ai về Miệt Thứ, ai mong nhớngười

Kiên Giang quê tôi, một trời thươngnhớ

Nhớ Rạch Giá, An Minh, VĩnhThuận

Nhớ Hà Tiên, Tân Hiệp, KiênLương

Châu Thành, Hòn Đất, GiồngTrôm

An Biên qua bến nối liền GòQuao

Còn kia Phú Quốc xa xa

Hòn Nghệ, Hòn Rái, Hòn Tre,Mũi Dừa

Rạt rào sóng đẩy xa đưa

Thuyền không đợi bến chưa vừalòng ai

Hà Tiên quê tôi,

Điểm cuối Miền Nam,giáp Miên giáp Thái

Rạch Giá quê tôi,

Đền Nguyễn Trung Trực, uyhiển thánh linh

Chở che non nước của mình

Chan hòa vui sống, dân tìnhấm no

Hà Tiên ơi, thạch động nênthơ

Rạch Giá ơi, sóng bạc xa mờ

Một sông nước chảy hai bờ

Bên trong bên đục, ai chờ nhớ ai.

01. Tiếng lòng nức nở quêhương 01

02. Thầm lặng 02

03. Việt Nam, quê hương cònđó 03

04. Quê hương còn đó, đợi chờ04

05. Từ đó xa mờ 05

06. Tiếng kêu cứu quê hương 06

07. Thương Thầy An Thiên 07

08. Chùa tôi 08

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/02/2021(Xem: 20537)
Kính thưa quý vj, năm Canh Tý – 2020, nhân loại trên thế giới đã sống những nỗi lo âu, hãi hùng trước cơn bệnh Corona 19; bệnh dịch nầy đã cướp mất gần hai triệu người, và hàng triệu người đang bị lây nhiễm ở các nước Âu Châu – Hoa Kỳ và Bắc Mỹ…, Đất nước Việt Nam chúng ta hiện tại ở các tỉnh phía Bắc phía Nam như: Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng và Sài Gòn,.. đang diễn tiến lây nhiễm! Đặc biệt tại Tân Tây Lan, đất nước nhỏ bé nầy mà chúng tôi và quý vị hiện đang sống, cơn bệnh dịch có phần nào lắng dịu, so với Úc châu đất nước bên cạnh chúng ta hiện đang bị lây nhiễm. Đây là một điều lành với các sắc tộc đang sinh sống tại Tân Tây Lan, trong đó có cộng đồng Việt Nam.
09/02/2021(Xem: 8450)
Có cả khoảng trời thơ ngát xanh Đẹp thêm dăm tiếng hót trên cành Thênh thang thế giới hương trầm khắp Cô tịch thư phòng chuông điểm quanh Khẽ giở vài chương kinh sách cổ Dạt dào muôn pháp vũ long lanh Bình an tâm cảnh nhuần ân sủng Lồng lộng sơn hà trăng tịnh thanh.
07/02/2021(Xem: 13419)
Từng bậc cấp đá lên cao Kỳ Viên Trung Nghĩa đang vào cuối năm Bước chân mòn mỏi thăng trầm Dừng nơi vạt nắng ân cần ấm soi Chiều trên non sắc sáng ngời Chùa tịnh yên Khách bồi hồi Nghe chuông Chuyện đời phiền não thả buông
06/02/2021(Xem: 12654)
Tân niên đáo quê người đất khách Thêm một mùa xa cách quê hương Năm xưa Tết đến quây quần Giờ còn đâu nữa họ hàng gần xa
04/02/2021(Xem: 19362)
L Ờ I N G Ỏ Từ lâu nhóm Phật tử Đà Nẵng chúng tôi đã có tâm nguyện xuất bản một tập thơ của Thầy Viên Minh mà chưa đủ thuận duyên. Nhân hôm Thầy về Đà Nẵng có tặng chúng tôi tập thi kệ CỨ ĐỂ MÂY BAY do sư cô Pháp Hỷ sưu tập và ấn hành nội bộ thì tâm nguyện trên lại trở về hiện thực. Được sự cho phép của Thầy và sự nhiệt tình hỗ trợ của sư Tánh Thuận, cô Pháp Hỷ, chị Thùy Chung, Chơn Phúc, Huyền Hậu, Phong Linh, Minh Nguyên, Minh Nhiên, Tuệ Phương, Thi Hiên, Ý Thảo, Mallika v.v. cùng các anh chị em Công ty Cổ phần in và Dịch vụ Đà Nẵng, việc xin cấp giấy phép xuất bản và in ấn đã được tiến hành thuận lợi.
04/02/2021(Xem: 11694)
Tết Sửu xin mừng những bạn xa, Thầm yêu thiện hữu kết bao nhà… Nhiêu điều cảm nhận bài không rã, Mấy chuyện vòng quanh nẻo vẫn hoà. Sáng tỏ lời hay về đạo nhã, Trong ngần ý đẹp bởi niềm tha. Mong cầu hạnh phúc muôn loài cả, Xướng, luận, thơ,vè mãi nở hoa.
04/02/2021(Xem: 8531)
Chuông ngân tiếng thấy vương tâm dạ Như nhủ ta buông xả giận hờn Đừng nên tính chuyện thiệt hơn Cho lòng thanh thản tâm hồn tịnh yên
03/02/2021(Xem: 11809)
Đón Tết năm nay thấy ...khác xưa , Bạn bè biền biệt ...vãng lai thưa Một mình cô quạnh ..gian nhà trống Ông Táo ngày mai .. vẫn phải đưa ! Xuống phố, ừ ..mua cam, mứt, quả Chuẩn bị tuần nữa cũng là vừa Hai chậu Vạn Thọ trước nhà ... Tết ! Xuân đến ... quan trọng nhất Giao Thừa.
03/02/2021(Xem: 13355)
Tùng xèng tùng xèng Chuông đồng hồ reng Giật mình tỉnh giấc Hăm ba tháng Chạp Mang gấp khẩu trang Kính tâu Ngọc Hoàng
03/02/2021(Xem: 33416)
Vừa qua nhóm ảnh Nhất Chi Mai thuộc tu viện Phước Hòa (Đồng Nai), được sự hướng dẫn của Thượng toạ Viện chủ đã đến Buôn Mê Thuột để quay những thước phim đầu tiên về nhạc sĩ Hằng Vang. Cùng với cố nhạc sĩ Lê Cao Phan, Bửu Bác... được xem như lớp tiền phong của dòng tân nhạc Phật giáo. Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1933 tại Huế. Trong hơn 60 năm sáng tác, ông có hàng trăm ca khúc về đề tài này, nổi bật nhất là ca khúc Ánh Đạo vàng (1958) đã thấm sâu vào lòng Phật tử suốt thời gian dài từ khi ra đời.