Tuyển tập 13

26/11/201102:45(Xem: 20159)
Tuyển tập 13

Tình Tự Quê Hương 13

01. Thăm người nghèo

02. Gởi người phế nhân

03. Gởi miền nước mặn đồng chua

04. Gởi người ở vùng cao

05. Thăm người mua bán ve chai

06. Thăm chị bán hàng rong

07. Thăm giới doanh thương

08. Tôi gởi thơ tôi

09. Âm vang hồn tử sĩ

10. Những nấm mồ không tên tuổi

Bài Thơ Mười Ba :

Thăm Người Nghèo

Tháng 12-2004

Bài thứ mười ba thăm giới nghèo

Cái nghèo đeo đẳng mãi đeo theo

Tháng năm thỉnh thoảng chưa qua ngặt

Thì hỏi làm chi thoát cái nghèo

Vốn nghèo nên sống chẳng ra chi

Thiếu trước hụt sau, khổ nó đì

Thẩm thấu cuộc đời nhiều bất hạnh

Cây sầu dần lớn với cây bi

Tôi đã nhìn qua thấy tận tường

Cái nghèo quay quắt khổ không lường

Nào cha nào mẹ nào con cháu

Vá víu từng ngày thật thảm thương

Mái tranh chừa lỗ, ngó ông trời

Vách lá chừa khe, đón gió chơi

Cơm cháy phơi khô, dành nấu cháo

Nhà không đóng cửa, chẳng ai dời

Tháng năm lui tới, không ai hỏi

Thấp thỏm lân la, chẳng ai mời

Đem bán cái nghèo, không ai gọi

Đem khoe cái thiếu, chẳng ai chơi

Cái nghèo cứ thế nó làm reo

Reo suốt một đời đến mốc meo

Đem ném chẳng rơi, quăng chẳng rớt

Biết đâu, lỡ chết, nó còn theo

Xin cảm ơn ai hiểu phận nghèo

Đời tôi tệ quá, bạt hơn bèo

Trông qua ngó lại, còn nghe quải

Khú đế như miêu, nó vẫn meo !!!

Bài Thơ Mười Bốn :

Gởi Người Phế Nhân

Tháng 12-2004

Mười bốn, tôi xin gởi phế nhân

Làm sao như thế biết sao lần

Tôi xin han hỏi tình chân thật

Chia xẻ những người không vẹn thân

Người nói một thời thuở chiến chinh

Đạn bom đã cướp mất thân hình

Quê hương khói lửa đành cam phận

Cam cả nhân gian chẳng nhớ mình

Người thì lại nói lúc thời bình

Giá áo túi cơm, ũi đất, sình

Tấc đất tấc vàng ra trái thúi

Nổ đoành một cái kéo về dinh

Người thì tàn tật mới ra đời

Cha mẹ trông qua luống rụng rời

Nhưng đã là con ươm giọt máu

Nên ươm đến cả một đời thôi

Người thì tật bịnh phát sinh ra

Lúc trước cũng như ai ấy mà

Đâu biết hôm nay mang bịnh tật

Còn chi đâu nữa mà kêu ca

Có người lại bị bỡi thiên tai

Trần thế cớ chi chịu khổ dài

Ách nước tai trời sao tránh khỏi

Đến ai đành chịu, trách chi ai

Cuộc đời như thế, hỡ người ơi

Tiếng khóc lại chen lẫn tiếng cười

Thân thể nào ai mà biết được

Khi tàn, đành khổ đến tàn hơi

Ai có thương, đời sống phế nhân

Trần thân cho thấu những phong trần

Xót thương cơ cảm, còn thương xót

Cho những người mang kiếp phế nhân !!!

Bài Thơ Mười Lăm :

Gởi Miền Nước Mặn Đồng Chua

Tháng 12-2004

Bài mười lăm gởi miền nước mặn

Quến đất phèn nhuộm cánh đồng chua

Bờ lau sậy vành đai lá chắn

Biển mênh mông sóng gợn gió lùa

Thăm miền đất nước của quê tôi

Nước mặn đồng chua thấm mặn môi

Ăn chắt mặc bền nên chất phác

Sống bình thường chẳng nghĩ xa xôi

Hai bên mây nước kéo hai bờ

Én liệng cò bay cá lững lờ

Đôi nẻo giao thoa mùi mặn ngọt

Khổ tuy nhiều đẹp cũng như mơ

Thủy triều lên xuống mỗi ngày đêm

Khi thấp khi cao mấp mé thềm

Dấu nước vỗ bờ, in vách đá

Nước sâu dần, vách đá chênh vênh

Mây nước mênh mông giữa đất trời

Bên bờ biển lộng sóng trùng khơi

Trăng treo lơ lửng chòm mây bạc

Sao ngủ lưng trời sao rụng rơi

Nước mặn đồng chua ngấm biển dâu

Ra vô cũng phải bước qua cầu

Ngược xuôi cũng có thuyền chèo chống

Hai nghiệp nông ngư đãi dãi dầu

Gởi về miền đất mặn tôi ơi

Nước ngọt phèn chua nên lợ lời

Nơi ấy, dân tôi đành phải sống

Một đời lam lũ sóng đầy vơi.

Bài Thơ Mười Sáu :

Gởi Người Ở Vùng Cao

Tháng 12-2004

Bài thơ mười sáu gởi vùng cao

Đồi thấp núi cao gió rạt rào

Tiếng nói vượt trùng reo vắng ngắc

Rừng khuya gối mộng ngắm trăng sao

Trăng tròn mười sáu lại tròn trăng

Đồi núi rừng khuya đón chị hằng

Ca hát bập bùng reo ánh lửa

Êm đềm vui sống những đêm trăng

Nhà sàn dong dỏng cất ven rừng

Vừa mát ban ngày, phòng tối bưng

Theo dấu đánh hơi, loài dã thú

Lâm le đêm viếng, biết đâu chừng

Dân cư thưa thớt sống đơn sơ

Sáng quảy gùi đi, chiều vát vò

Điểm hẹn miền xuôi cùng đổi chác

Ngày ngày cứ thế chẳng âu lo

Rừng sâu, gió núi lộng xa xa

Lối nhỏ, đường đi, nẻo lại qua

Có những loài hoa bên cỏ dại

Hương thơm, nhụy thắm, sắc kiêu sa

Người ở trên cao sống đã lâu

Đã quen rừng núi lại quen màu

Nhìn trời, đủ biết mưa hay nắng

Biết thuận hòa và cả thuẫn mâu

Lòng dạ thẳng ngay, tâm tánh hiền

Chẳng chua chẳng ngót chẳng huyên thuyên

Nghĩ sao nói vậy lời chân thật

Như chim rừng lảnh lót tự nhiên.

Bài Thơ Mười Bảy :

Thăm Người Mua Bán Ve Chai

Tháng 12-2004

Gởi thăm những chị bán ve chai

Buôn bán ra sao có đủ xài

Còn có chút dư, thêm chút để

Ngày qua ngày lại đến ngày mai

Cứ gọi là nghề cho dễ coi

Khi buôn nước mắt bán mồ hôi

Đó đây đi khắp trong thiên hạ

Có chuyến còn may, chuyến mất toi

Bán buôn đủ mọi thứ trên đời

Xoong, chảo, nồi, niêu, chén, bát, môi

Nhôm, bạc, thau, chì, đồng, kẽm, sắt

Và thêm lông vịt nữa, ôi thôi !

Có chuyến đi gần, có chuyến xa

Xe đò, xe lửa, đến xe tha

Ngắn năm ba bữa, dài tuần lễ

Khỏe khoắn gì đâu, mệt thấy bà

Có khi kiếm được, có khi không

Chọn lựa chẳng cho, họ đổ đồng

Hốt đại đem về, rồi chất đống

Còn chi lời lỗ, vốn đi đoong

Kiếm cơm kiếm gạo được là may

Có bữa gặp cò, phủi trắng tay

Ấm ức về nhà, buồn thúi ruột

Rồi năm ba bữa lại đi ngay

Đã bao năm rồi như thế đó

Tay trắng hoàn tay, tay trắng tay

Kiếm chác đôi đồng, tiêu, trả nợ

Ve chai lây lất, xót thương thay !!!

Bài Thơ Mười Tám :

Thăm Chị Bán Hàng Rong

Tháng 12-2004

Hỏi thăm những chị bán hàng rong

Cuộc sống ra sao, có đỡ không

Buôn bán những gì trong đó chị

Mỗi một ngày, kiếm được khá không ?

Ngày ngày gồng gánh bán hàng rong

Những bữa nhanh tay, đỡ nhọc lòng

Đỡ bỏ công, hôm khuya, sớm tối

Nai lưng, tiền cắt, kiếm đôi đồng

Bán khoai, bán bắp, bán chè xôi

Bù lại, chế qua, đủ đắp bồi

Bữa nọ, bữa kia, thay đổi món

Dần dà, khách khứa cũng quen thôi

Chị gánh hàng rong đến cuối đường

Trời còn ngái ngủ mới tinh sương

Bước chân đon đả, đôi vai gánh

Thêm bớt kì kèo, đổ xót thương

Bán buôn, kiếm sống, tạm qua ngày

Hết bán rồi, thì lại trắng tay

Bán được ngày nào thì có sống

Còn không bán nữa, phải đong, vay

Cho nên đã trải mấy năm qua

Cho đến hôm nay tuổi đã già

Dậy sớm, thức khuya, đâu nổi nữa

Lâu lâu một gánh, mệt ui cha

Mua gánh bán bưng khổ một đời

Khi buông đòn gánh, chẳng còn hơi

Đồng vô, mở cửa, đồng ra sạch

Biết thế, nhưng làm sao, chị ơi !

Bài Thơ Mười Chín :

Thăm Giới Doanh Thương

Tháng 12-2004

Bài thơ mười chín thăm doanh thương

Buôn bán, đương nhiên, đủ mọi đường

Nhưng sống có tiền, nhân có hậu

Cho thuyền đời chở những thanh lương

Nghề nào cũng trải những chua cay

Khổ trí, nhọc tâm, xẫm mặt mày

Đổ sức cần lao, còn nặng nhẹ

Nhưng mà cố sống được, là may

Không buôn, không bán, chẳng ai cho

Nhưng bán buôn thì phải đắn đo

Hơn thiệt, lỗ lời, sao phải phải

Muốn đa, tích tiểu, đừng ăn to

Tiếng làm người chủ, nói, nghe oai

Ai biết nai lưng đến cõm còi

Sớm tối bơ phờ, không thở nổi

Bạc tiền công sức, đếm đầy vơi

Người ta đã nghỉ tự đầu hôm

Mình thở không ra đến tối ồm

Vừa mới nửa khuya bừng thức dậy

Lại làm, lại tính, lại lom khom

Hỏi thăm cho biết những thâm tình

Biết sống ở đời, biết nhục vinh

Chẳng trọng, chẳng khinh, chẳng dối trá

Ai ai cũng khổ, phải riêng mình

Bước ra, có tiếng thưa ông chủ

Bước vô, chờ tiếng, để hỏi bà

Đừng để tiếng đời, khua uế xụ

Biết cho người và biết cho ta !!!

Bài Thơ Hai Mươi :

Tôi Gởi Thơ Tôi !

Tháng 12-2004

Bài hai mươi, viết gởi thơ tôi

Thăm khắp trùng dương, thăm núi đồi

Thăm khắp nơi, hang cùng ngõ hẻm

Gởi cho đời, và gởi cho tôi

Thơ tôi, đem gởi ở trên ngàn

Lơ lửng cho mây kéo lang thang

Thăm thẳm cho sao mờ lấp lánh

Mênh mang cho nguyệt tỏa trăng vàng

Thơ tôi, đem gởi ở trên đồi

Cho núi lên non để ngó trời

Cho dốc lên đèo nhìn vũ trụ

Cho không gian hết những chơi vơi

Thơ tôi, đem gởi ở trên cao

Để gió lay lay, lá xạt xào

Để cát bụi tàn, thôi khởi động

Xuống trần gian hết những hư hao

Thơ tôi, đem gởi xuống đầm sâu

Để thấm bùn nhơ phủ ngập đầu

Để vượt tầng không vươn khỏi nước

Sợi thơ, vẫn óng ánh thiên thâu

Thơ tôi, đem gởi xuống dòng sông

Dù nổi trôi, mưa gió dập dồn

Dù có phiêu bồng ra biển cả

Làm cho thơ, ý đẹp khơi dòng

Thơ tôi, đem gởi xuống nương dâu

Hải biến điền tang nhuộm sắc màu

Lại có bờ lau bên cát bụi

Nên hồn thơ thấm những thương đau

Không đâu, tôi có gởi đi không

Nếu có thì thơ chẳng có dòng

Còn nếu không, thì thơ chẳng có

Nên hồn thơ cứ mãi đi rong !!!

Âm Vang Hồn Tử Sĩ !

Tháng 12-2004

Một buổi chiều, tôi viếng thăm nghĩa trang quân đội

Từ nghĩa trang, tôi thấy mặt mũi khắp mọi chiến trường

Từ nghĩa trang, tôi thấy trên mọi vùng đất quê hương

Nơi đâu cũng có cảnh chiến chinh

Nơi đâu cũng có người gục ngã

Một buổi chiều, tôi vẳng nghe hương hồn tượng đá

Nên biết được anh, qua hình ảnh mộ bia

Từ cuộc chiến nào, anh đã vội xa lìa

Bỏ bè bạn, bỏ những người thân yêu ở lại

Anh ra đi, vì một lằn đạn xuyên qua, tê tái

Nên anh đi, cùng những đồng đội đã hy sinh

Anh đi về một cõi âm linh

Gát tay súng, giã từ vũ khí

Từng hàng mộ bia, quên dần thế kỷ

Bỗng tôi nghe những âm vọng lạnh lùng

Anh nằm xuống, đời anh đã cáo chung

Đất ôm thân anh, một dấu nét rêu mờ chiến sử

Thịt xương nào, phơi chiến hào, chiến sự

Đạn bom nào, xuyên nát ruột, nát gan

Anh nằm yên khi cuộc chiến chưa tàn

Cho đến khi kết thúc, thêm bao người ngã gục

Nghĩa trang quân đội !

Tàn tích chiến tranh !

Ai vinh danh ?

Ai vinh nhục ?

Anh là thân trai, theo tiếng gọi quê hương

Anh là nam nhi, theo tiếng gọi lên đường

Tổ quốc lâm nguy, anh ra đầu chiến tuyến

Cờ bay, khói quyện

Anh nằm xuống, cho quê hương, chứ không phải cho ai

Tôi đến thăm anh, nghe tiếng nói tuyền đài

Hồn tử sĩ vi vu

Theo hồn thiêng dân tộc

Thịt da anh, trả về cho đất

Máu xương anh, trả lại núi sông

Tôi đến thăm anh

Một buổi chiều hè mà sao giống chiều đông

Trong lành lạnh tâm can

Trong tro bụi điêu tàn

Còn lại nét âm vang, hồn tử sĩ !

Những Nấm Mồ Không Tên Tuổi !

Tháng 12-2004

Tôi chợt thấy giữa rừng già tiết đọng

Nấm mộ không tên, chôn đã bao lâu

Và chỉ vùi chôn, lấp vội, không sâu

Nên mưa gió đã xói mòn, ló dạng !

Trên tấm áo bị thủng nhiều vết đạn

Có lẽ người này chết không được yên lành

Khi quê hương mịt mù khói lửa chiến tranh

Bom nổ, đạn bay, vô tình xuyên phá

Chiến tranh nào, không trả giá !

Bom đạn nào, không nổ vang !

Khói lửa nào, không điêu tàn !

Thịt xương nào, không tan nát !

Người nằm đó, phong sương mờ gió cát

Hồn phiêu du, lạc lõng bụi mù bay

Cùng những hồn đơn vất vưởng đêm ngày

Chết và vùi lấp, không ai hay biết

Những nấm mồ hoang, kể sao cho xiết

Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu

Từ đồi cao, cho đến hố thẳm, đồng sâu

Chết và lấp vội, lạnh lùng trong khói lửa

Chinh chiến dài, đằng đẵng, còn chi nữa

Nên biết bao người, lấp vội, không tên

Theo thời gian đi vào thế giới lãng quên

Những người thân bặt âm, nên cho rằng mất tích

Có những đêm cô tịch

Chợt nhớ nấm mồ hoang

Lòng thổn thức bàng hoàng

Xin chắp tay khấn nguyện

Người chết âm thầm, không họ không tên, không thân không quyến

Người chết lạnh lùng, chôn vội chôn vàng, không khói không hương

Hồn bơ vơ, lưu lạc chốn thê lương

Đếm cây cỏ bên rừng hoang quạnh quẽ

Quê hương mình biết bao nhiêu những kẻ

Chết nghẹn ngào, và lấp vội ai hay

Uï đất kia, ai biết được đêm ngày

Dần tan biến một hình hài cát bụi

Người chết đi, biết gì không, tiếc nuối

Người chết đi, biết gì không, kêu thương

Nhưng nơi đây, hồn ai đó vấn vương ?

Phảng phất mãi những nấm mồ không tên tuổi !!!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/09/2021(Xem: 36510)
Tin vào Ta tránh được Nghiệp ám ảnh ! Kính bạch Thầy sau khi nghe pháp thoại nhiều lần con đã hết bị ám ảnh về nghiệp số an bày, vì Ngài Giáo thọ Sư Sán Nhiên đã đưa ra những kinh nghiệm trong đời hoằng pháp và của người thân trong gia đình Sư giúp học nhân tự mình chuyển hoá nghiệp dần dần trong đời sống hàng ngày và tích lũy được cho ngày vị lai . Kính dâng Thầy bài thơ như những bài trình pháp . Kính chúc sức khỏe Thầy, HH
26/09/2021(Xem: 10136)
Vội vã làm chi lắm vậy người Vội vàng chôn lấp tuổi xuân tươi Vội tìm hạnh phúc trong mơ mộng Vội vã đau thương giữa ngậm ngùi Vội vã bon chen với nhịp đời Vội chẳng cho mình phút thảnh thơi Vội vàng cho lắm rồi kiệt sức Vội vã làm chi để rã rời Vội vàng quen biết vội yêu nhau Vội vã tạ từ trong nỗi đau
23/09/2021(Xem: 9279)
Kỷ lục không ai muốn ! Kính bạch Thày, Melbourne vừa có trận động đất cấp độ 5, 9 sáng qua lúc 9:15 am thế mà sau đó tại có biểu tình tiếp theo đó ....lòng người dân coi bộ chán nản lockdown quá rồi ...Nhân nghe được tin này , con có bài thơ ...kính mời Thầy xem cho vui . Kính chúc sức khỏe Thầy, HH Người dẫn chương trình Sky News, Peta Credlin, nói với Jim Wilson của 2GB vào hôm thứ Tư.rằng Thứ Năm 23/9/2021 sẽ đánh dấu 235 ngày đóng cửa cho "thành phố đáng sống nhất" của Úc. Nguồn: AAP Nơi giữ kỷ lục trước đó - thủ đô của Argentina, Buenos Aires - đã bị khóa 234 ngày, trong khi Dublin, Ireland, theo sát với 227 ngày và London, Vương quốc Anh, với 201 ngày.
21/09/2021(Xem: 8064)
Kỵ Mệ năm nay lúc dịch tràn, Cách ly khắp nẻo cảnh hoang tàn. Nhà bên đóng cửa ngừa lây bệnh, Góc phố che tôn bít hãm đàng. Gặp chuyện ng gia không thể viếng, Thương ngày lễ giỗ khó dâng nhang. Tai ương vạn ngã mong liền dứt, Khấn nguyện Người thiêng trú đạo vàng. (*)
20/09/2021(Xem: 12068)
Sống giữa đời thường, ..... hẵng đôi lần người người từng ước nguyện? Nhưng tựu thành viên mãn ... .....phải chăng cần có Phước duyên, Học kỹ lại bài kinh thứ 6/ Trung bộ ....** .......lời Phật dạy được trùng tuyên Kính tán thán...vì chiêm nghiệm "thời đại nào cũng nên nghe Đức Đạo Sư nhắn nhủ "
20/09/2021(Xem: 18085)
Hai mươi ba năm qua nhìn lại di ảnh Thầy Nước mắt trào dâng lòng con thổn thức " Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật" Tâm con dâng niệm để lòng con an " Nam Mô từ Phụ Huệ Hưng" Niệm theo hơi thở Thầy về bên con. Thầy ơi, con trẻ mỏi mòn Bao năm xa cách cố hương ngàn trùng! Hàng cây đó năm nào còn mãi
19/09/2021(Xem: 17111)
Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27/02/1917 tại Hà Nội. Mất ngày 12/9/1986, tại Minnesota, Hoa Kỳ. Học sinh trường Bưởi; Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao Đẳng Canh Nông. Tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà Nội và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng. Từ 1948 Vũ Khắc Khoan bắt đầu in bài trên báo Phổ Thông: hai vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948) và Giao thừa (1949) và bài tùy bút Mơ Hương Cảng (1953).
18/09/2021(Xem: 13163)
Kính mừng Khánh Tuế (sinh nhật 18/9) Thượng Tọa Viện chủ Tu Viện Quảng Đức Thích Tâm Phương . Kính mừng Khánh Tuế TT Thích Tâm Phương .... Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Giáo Hội Úc Châu đương vị Bốn mươi hạ lạp đôi tháng đã gần kề Phật sự đa đoan ủy lạo ... ..Viện chủ vần chưa về Giúp thiên tai bão lụt lại thêm đại dịch thế kỷ ! Kính tán thán TÂM từ bi như pháp hiệu huyền ký Biến nhập bốn PHƯƠNG phụng hiến nhân sinh Chí nguyện lớn..dùng ngũ lực quyết giải thoát tâm linh Sáu sáu niên ngại gì ...vẫn xông pha cứu trợ ! Nhìn cúc đủ sắc màu nơi Tu Viên đang rực rỡ ! Như chúc mừng Khánh Tuế chủ nhân khai sơn Ba một năm qua ngôi chùa thiêng ...trụ vững vàng hơn Ngời ánh Đạo, bảo tháp, Hồng chung nối tiếp “Tứ Đại Khí”
17/09/2021(Xem: 13613)
Đã lâu rồi ...sinh nhật đến đi không lưu ý Chỉ năm này bạn gửi thư pháp chúc mừng Như chất liệu khích phát hoài niệm chẳng chịu dừng Nào ....đón mừng sinh nhật như thời còn niên thiếu ! Trước khi tự mình chúc phúc, soi rọi quán chiếu Nhìn lại một năm tu tập tiến bộ gì thêm ... Kiểm soát tâm mình cái an cái lạc có tăng lên ? Có trào dâng niềm vui mỗi lần Minh Sư hướng dẫn ?
15/09/2021(Xem: 10626)
Nghe Pháp thoại Online trong mùa dịch Covid Kính tặng TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng cùng quý Phật tử nghe pháp thoại online trên Trang Nhà Quảng Đức Sáu chín tuổi hưu trí dưỡng già Vì “cô vi” nên chỉ ở nhà Thời gian rảnh, chẳng chi làm cả Điện thoại cầm, “Phây Bút” lướt qua Đời đủ chuyện xem sao cho hết Chuyện vui buồn, sướng khổ... gần xa... Ngẫm lại nghĩa Ta bà thế sự Chẳng việc nào không thể xảy ra Bỗng chợt thấy trang nhà Quảng Đức Lớp online Phật học hiển bày Mở ra xem, đã nhận liền ngay Thầy Nguyên Tạng, Giảng-sư nơi ấy Lòng bỗng cảm Phật tâm thúc đẩy Tuổi sáu chín, từ đây thềm tựa Qui y Phật, mười năm có lẽ Lòng dặn lòng, gắng dựa vào đây Vì “cô vi” chùa không được đến Bảo Vương Tự, mìnhThầy nơi đó! Chỉ hướng lòng, tâm kính biết sao?! Ngày ngày học Phật lớp online Lý, sự nghe giảng hiểu cả hai Rõ tâm ý Thiền Sư chư Tổ Tự quán chiếu soi tâm Phật tánh Giác ngộ rồi giải thoát tử sanh.