13. Vô Ưu kết nụ Liên Đài

12/05/201103:48(Xem: 20708)
13. Vô Ưu kết nụ Liên Đài

TUYỂN TẬP THƠ PHẬT ĐẢN

Vô Ưu kết nụ Liên Đài

Nhớ xưaĐức Phật Đản Sanh

Vô Ưu bừng nở trên cành ban mai

Ma Gia mẫu hậu đưa tay

Từ trong bụng mẹ, leo đài bước ra

Bước đibảy bước kết hoa

Sen thơm bát ngát chan hòa trần gian

Trời người rạng rỡ hân hoan

Thiều quang trổi nhạc vang vang đất trời

Chư Thiên hớn hở gọi mời

Hướng về La Vệ muôn lời tán dương

Lâm Tỳ Ni hiện phi thường

Báo chonhân thế Pháp Vương ra đời

Kìa trông Thái tử ngô khôi

Thông minh tuấn tú tuyệt vời tinh anh

Phạn Vương quả thật Vua Lành

Ma Gia quả thật Mẹ Hiền xưa nay

Vô Ưu muôn kiếp chờ ngày

Khi Phật giáng thế mới bày hiện ra

Hoằng khai chuyển pháp Thích Ca

Chúng sanh độ tận, Ta Bà trầm luân

Hơn Ba Trăm Hội thuyết kinh

Ba rừngGiáo lý nguyên trinh đạo mầu

Dù cho bốn biển năm châu

Ngăn sông cách núi bắc cầu lại qua

Dù cho phiền não trần sa

Dắt dìutất cả vào nhà Như Lai

Tám mươi năm, in dấu hài

Đạo vàng khắc ấn phương đài thiên thư

Tám mươi năm, kết ngàn thu

Sa La song thọ, Vô Dư Niết Bàn

Chúng con nguyện Đức Từ Quang

Ban ân tế độ trên đàn con đi

Chúng con nguyện Đức Từ Bi

Gia hộ đạo lý huyền vi trường tồn

Chúng con nguyện Đấng Pháp Vương

Đẩy thuyền Bát Nhã thanh lương cứu đời

Không còn đau khổ chơi vơi

Không còn vọng tiếng nửa lời thở than

Ta Bà đã có Đạo Vàng

Tây Phương đã có Lạc Bang trông chờ

Đâu cònđêm tối mịt mờ

Đâu cònsinh tử hữu vô điệp trùng

Vẳng nghe Pháp Cổ Hồng Chung

Giộng lên một tiếng vô cùng chưa tan

Vẳng nghe kinh kệ nhịp nhàng

Chuông mõ kết thúc, âm vang hằng còn

Một đờiTừ Phụ ấn son

Vô chung vô thỉ vết mòn chưa pha

Một đờiTừ Phụ Thích Ca

Mười phương ba cõi vào nhà Như Lai

Vô Ưu một cánh hoa cài

Gắn trên tuyệt đỉnh phương đài diệu liên

Vô Ưu một cánh hoa thiền

Hằng hàsa số trược phiền tiêu tan

Nguyện cầu pháp nhũ từ ân

Thường Chơn diệu hữu Pháp Thân tuyệt kỳ

Nguyện cầu Đạo lý Từ Bi

Ba ngànthế giới huyền vi Đạo Vàng

Đến vô lượng kiếp chưa tan

Vô chung vô thỉ gởi ngàn thiên thu

Trần gian có nghĩa gì ư

Niết bàn tịch tịnh hữu dư chi nào

Hư vô bào ảnh chiêm bao

Niêm hoa vi tiếu cây đào trổ bông.

Tháng Tư năm Canh Dần 2010

TNT Mặc Giang

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/09/2010(Xem: 21054)
Tự thuở nằm nôi Cha đâu xa vắng Ở quanh con như giọt nắng hiên nhà Ngó trước trông sau vườn rau mướp đắng Giàn cà non vừa trổ nụ hương hoa
19/09/2010(Xem: 28722)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
19/09/2010(Xem: 21771)
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
19/09/2010(Xem: 16633)
Hơn nữa thế kỹ, nét mặt của Thầy Vẫn sáng tỏa, không một chút đổi thay Trong gian nan, giữ tâm hồn Bồ Tát! Mượn tiếng đàn gửi theo gió cùng mây.
18/09/2010(Xem: 18245)
Có lần tôi đi ngang Qua vỉa hè Ðồng Khởi Một bà ôm chiếc gối Ðứng hát như người say
18/09/2010(Xem: 17846)
Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng Mười năm dài mộ mẹ chẳng ai trông Cỏ có cao hơn nỗi nhớ trong lòng Đất có lạnh hơn mùa đông Bắc Mỹ
18/09/2010(Xem: 24504)
Thiền sư Quảng Nghiêm (1121 - 1191) người huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Tây. Ông tu ở chùa Thánh Ân thuộc huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh).
16/09/2010(Xem: 13201)
Chị ơi nếu chị đã yêu Ðã từng lỡ hái ít nhiều đau thương Ðã xa hẳn quãng đời hương Ðã đem lòng gởi gió sương mịt mù
16/09/2010(Xem: 16881)
Nhìn ra trăng nước vơi đầy, Nhìn đời một giấc mộng dài ngắn thôi! Đáy lòng vằng vặc gương soi, Thăng hoa nhân quả đón người thăng hoa!
13/09/2010(Xem: 21162)
Chuyển ngữ: Sư Ông Làng Mai Xướng kệ: Thầy Pháp Niệm Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.