13. Vô Ưu kết nụ Liên Đài

12/05/201103:48(Xem: 19634)
13. Vô Ưu kết nụ Liên Đài

TUYỂN TẬP THƠ PHẬT ĐẢN

Vô Ưu kết nụ Liên Đài

Nhớ xưaĐức Phật Đản Sanh

Vô Ưu bừng nở trên cành ban mai

Ma Gia mẫu hậu đưa tay

Từ trong bụng mẹ, leo đài bước ra

Bước đibảy bước kết hoa

Sen thơm bát ngát chan hòa trần gian

Trời người rạng rỡ hân hoan

Thiều quang trổi nhạc vang vang đất trời

Chư Thiên hớn hở gọi mời

Hướng về La Vệ muôn lời tán dương

Lâm Tỳ Ni hiện phi thường

Báo chonhân thế Pháp Vương ra đời

Kìa trông Thái tử ngô khôi

Thông minh tuấn tú tuyệt vời tinh anh

Phạn Vương quả thật Vua Lành

Ma Gia quả thật Mẹ Hiền xưa nay

Vô Ưu muôn kiếp chờ ngày

Khi Phật giáng thế mới bày hiện ra

Hoằng khai chuyển pháp Thích Ca

Chúng sanh độ tận, Ta Bà trầm luân

Hơn Ba Trăm Hội thuyết kinh

Ba rừngGiáo lý nguyên trinh đạo mầu

Dù cho bốn biển năm châu

Ngăn sông cách núi bắc cầu lại qua

Dù cho phiền não trần sa

Dắt dìutất cả vào nhà Như Lai

Tám mươi năm, in dấu hài

Đạo vàng khắc ấn phương đài thiên thư

Tám mươi năm, kết ngàn thu

Sa La song thọ, Vô Dư Niết Bàn

Chúng con nguyện Đức Từ Quang

Ban ân tế độ trên đàn con đi

Chúng con nguyện Đức Từ Bi

Gia hộ đạo lý huyền vi trường tồn

Chúng con nguyện Đấng Pháp Vương

Đẩy thuyền Bát Nhã thanh lương cứu đời

Không còn đau khổ chơi vơi

Không còn vọng tiếng nửa lời thở than

Ta Bà đã có Đạo Vàng

Tây Phương đã có Lạc Bang trông chờ

Đâu cònđêm tối mịt mờ

Đâu cònsinh tử hữu vô điệp trùng

Vẳng nghe Pháp Cổ Hồng Chung

Giộng lên một tiếng vô cùng chưa tan

Vẳng nghe kinh kệ nhịp nhàng

Chuông mõ kết thúc, âm vang hằng còn

Một đờiTừ Phụ ấn son

Vô chung vô thỉ vết mòn chưa pha

Một đờiTừ Phụ Thích Ca

Mười phương ba cõi vào nhà Như Lai

Vô Ưu một cánh hoa cài

Gắn trên tuyệt đỉnh phương đài diệu liên

Vô Ưu một cánh hoa thiền

Hằng hàsa số trược phiền tiêu tan

Nguyện cầu pháp nhũ từ ân

Thường Chơn diệu hữu Pháp Thân tuyệt kỳ

Nguyện cầu Đạo lý Từ Bi

Ba ngànthế giới huyền vi Đạo Vàng

Đến vô lượng kiếp chưa tan

Vô chung vô thỉ gởi ngàn thiên thu

Trần gian có nghĩa gì ư

Niết bàn tịch tịnh hữu dư chi nào

Hư vô bào ảnh chiêm bao

Niêm hoa vi tiếu cây đào trổ bông.

Tháng Tư năm Canh Dần 2010

TNT Mặc Giang

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/12/2010(Xem: 15502)
Khi cha mất, tôi không còn tiếng cha để nói Khi mẹ mất, tôi không còn tiếng mẹ để thưa Giấu tận ngàn xa, thăm thẳm mịt mờ Chôn kín thật sâu, nghẹn ngào nỗi nhớ Tôi biết, tôi đã mồ côi cha từ đó Tôi biết, tôi đã mồ côi mẹ trong đời
29/12/2010(Xem: 16198)
Bắc chảo dầu ô-liu nóng, chiên vàng đậu hủ. Sau đó cho vật liệu của phần gia vị vào, trộn đều.
29/12/2010(Xem: 15429)
Không biết ta còn viết nổi không Văn chương chữ nghĩa thả trôi sông Tâm tư ý tưởng treo màn gió Mực cạn bút cùn giấy bỏ không
29/12/2010(Xem: 16016)
Yến Phi em hỡi đâu rồi Ai nghe tiếng nói tiếng cười Yến Phi Mầm non đang độ xuân thì Hiến thân Đạo Pháp cũng vì lầm mê Trải qua sóng gió nhiêu khê Còn đây, một mái ước thề nghe em
29/12/2010(Xem: 15785)
Ướp mì căn với một chút đường và nước tương. - Cho dầu canola vào chảo. Khi dầu nóng, cho mì căn vào chiên vàng. Gắp ra đĩa.
28/12/2010(Xem: 14586)
Một mái nhà xưa nát cột kèo Nền nghiêng vách ngửa nằm chèo queo Ruôi mè đòn xóc đè lương đống Đất đá gạch vôi đổ lộn phèo
28/12/2010(Xem: 14876)
“Hơn sáu muôn lời thành bảy cuốn Rộng chứa đựng vô biên nghĩa mầu Trong cổ, nước cam lồ rịn nhuận Trong miệng, chất đề hồ nhỏ mát Bên răng, ngọc trắng tuôn xá lợi Trên lưỡi, sen hồng phóng hào quang Dầu cho, tạo tội hơn núi cả Chẳng nhọc, Diệu Pháp vài ba hàng”
28/12/2010(Xem: 15789)
Trang lịch sử, không đứng yên một chỗ Nếu đứng yên, lịch sử chết hay sao Đừng lẫn thẫn ngậm bồ hòn ấm ớ Dưới bùn đen thấp thỏm ngó trăng sao
27/12/2010(Xem: 14122)
Con gặp Tứ Đại hình hài, Của Thầy Nguyên Tạng cách vài năm nay, Khi Thầy viếng Houston này, Phái Đoàn Như Điển ba ngày quang lâm.
25/12/2010(Xem: 22207)
Với quyết tâm thành tựu ước nguyện tột cùng cao quý Đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh, Ước nguyện trân quý hơn cả viên bảo-châu như-ý Xin cho con luôn nghĩ đến muôn người muôn loài bằng tâm trìu mến.