Bagan và hương huyền sử (thơ)

01/12/201010:56(Xem: 16419)
Bagan và hương huyền sử (thơ)

Bagan - chùa tháp cổ sương

Có con trăng dệt con đường sử kinh

Ngọn đèn pháp bảo lung linh

Dấu son một thuở phục sinh đạo vàng

Ôi! Một thời dân tộc Môn qua đây

Đã liệt liệt oanh oanh

chép sử vàng lên bốn mươi ngàn tòa bảo tháp

Một cõi Đông dương

xây dựng kinh đô chánh pháp

Để ngàn sau...

để ngàn sau còn thơm mãi một mùi hương!

Ôi! Mùi hương nhập thế dị thường

Đã trải dài theo dấu chân

theo vết xe thổ mộ

Có con ngựa già còng lưng kham khổ

Và người phu xe

mà mái đầu đã bạc trắng đức tin

Ôi! Mùi hương của nhiệt huyết, của trái tim

Trộn lẫn mùi hương của tâm linh tôn giáo

Là công trình muôn đời của thăng hoa cảm xúc

Mà ấn ngọc, triện son

năm tháng chẳng mờ phai

Ôi! Có phải đây là thời

mà con sư tử vươn vai

Cất tiếng hống uy linh tràn trề sinh lực

Từ vạn dặm xa

kế thừa vinh quang A-Dục

Để huyền sử về một địa danh

bất diệt đến ngàn sau

Tôi cúi đầu xuống

Lắng nghe giữa hư vô

một mùi hương huyền diệu, sâu mầu

Thấm đẫm trên những cọng rêu xanh

Trên những cành cây khô

Trên những phù điêu, hoa văn chạm trổ

Tôi còn nghe

linh hồn cựa mình trong những viên gạch vỡ

Len vào sinh hoạt đời thường

thiên hạ thế gian tâm

Ôi! Tháp cổ Bagan!

Huyền sử Bagan!

Như một tiếng hú tận thâm lâm

Như một ngôn ngữ xa xăm

Nói về lẽ thăng trầm, hưng phế

Nói về chiến tranh, bạo quyền

và niềm đau khổ đế

Vì sự tham lam, sân hận của con người

Nó còn nói về sự thật trần khơi

Thần hủy diệt, thần bảo tồn

đã sát cánh chung vai

trong trò chơi quá nhiều thách đố

Để bi khốn thay

thân phận con người

cứ miệt mài xây tổ

Lẽ hoại thành nghe lòng mắt cay cay!

Lẽ hoại thành - khói tụ, tan mây...

Ôi! Một thời dân tộc Môn qua đây

Họ là một loài người tiến hóa bậc cao

Họ đến như làn mây lành

khoác tâm hồn nắng ấm

Rồi họ ra đi

mà dấu chân còn lấp lánh bụi sương

Để bây giờ

ngàn năm sau

bất diệt một mùi hương!

Ôi! Tôi đã đi thăm xứ xứ Bagan

Nơi đây con người

vận xà-rông xám chàm đất mục

Thân xác khô gầy gập lưng lạy Phật

Những tràng hoa lài,

hoa sứ tươi thơm

Chư sư khất thực qua ngày

bình bát toàn cơm

Cơ cực bữa ăn chan mùi khổ hạnh

Những cô gái bôi má bột cây

để gìn da giữ sắc

Còn giữ nụ cười đôn hậu ngây thơ

Những gã trung niên chuông gõ điện thờ

Mắt hấp háy nhìn hòm công đức

Những đứa trẻ cõi còm,

đói lòng kiếm xin vài "chạt"

Đôi mắt xanh trong!

Bi cảm tình người!

Ôi! Nhưng mà sao cách biệt một trời!

Mà phú quý

chỉ để dành cho người quý tộc?

Mà giàu sang

chỉ để dành cho giai cấp chiến sĩ?

Và mọi tiện nghi, xa hoa

ưu đãi giới thương buôn?

Còn thủ-đà-la, chiên-đà-la

thì sống trong cảnh bần cùng

thiếu áo, thiếu cơm

Thiếu cả những nhu cầu tối thiểu?

Ôi! Tôi đã ngồi rất lâu

để trầm tư mặc tưởng

Để nghĩ về những ngôi chùa tháp nguy nga

Để nghĩ về những công trình tôn giáo

như cung điện hoàng gia

Mà không hiểu lưỡng nguyên giá trị

Mà không hiểu sự cân phân tâm vật

Nơi dân tộc lạ kỳ này

tín ngưỡng duy linh!

Ôi! Tôi đã đi thăm cả một cõi tâm kinh

Mà cảm nghe cây lá bên đường

cũng sáng lên hoa chữ

Những nét chạm khắc rêu đen

Những con rồng giấu mình trong những bia đá vỡ

Nơi những tòa gạch nâu già

tuổi tác tuế sương!

Ôi! Huyền sử Bagan!

Bốn mươi ngàn tháp cổ Bagan!

Vi diệu mùi hương

Hương công đức

Hương tín tâm

Hương thâm u mật độ

Cùng hương tình, hương cảnh

của đất nước dễ thương nầy!

Ôi!

Cảm xúc bài thơ

chỉ như một thoáng khói mây

Xin tri tạ một lần tao ngộ

Ta hẹn ngươi, Bagan,

trên dặm về cổ độ

Nơi cõi Phật, lòng mình

lặng lẽ, vô ngôn!

Vẫy tay chào

chùa tháp dập dờn hương!

Myanmarlife hotel

Đêm 3/12/2008.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2025(Xem: 5526)
Kể từ ngàn xưa muôn thuở nọ, tuy xa xăm, hun hút tuyệt mù nhưng vẫn còn dư vang, thấp thoáng trong sương mờ vạn cổ, những bóng người đi giữa thiên thu vời vợi. Đó là những Thiền sư, những Thi sỹ, những đạo nhân, mặc khách, hành giả đã xuất hiện trên mặt đất, trần gian này. Họ đến rồi đi, chỉ để lại vài tiếng thơ, tiếng sáo hòa lẫn trong tiếng hét, tiếng gầm rền vang với giọng cười tiêu dao, hào sảng còn dội âm trầm hùng suốt vạn đại rung ngân...
17/10/2025(Xem: 3641)
Tuổi cao dù lắm cở con rùa. Tích lũy vô vàn niệm được thua. Phú quý vinh hoa tuồng ảo hóa. Lợi quyền danh vị tựa không hoa. Tử sanh bệnh lão vân lai khứ. Thành trụ mê không mộng tỉnh mê. Một kiếp không tu, muôn kiếp khổ. Trần gian tạm trú hãy quay về.
17/10/2025(Xem: 4065)
Bất chợt nghe nhìn chuyện cổ kim Khơi nguồn tỉnh giác chảy vô biên Trải gần trăm tuổi hình cơn mộng!...., Thọ dụng buồn vui bóng kịch trường !....
17/10/2025(Xem: 3979)
Luôn sống giữa nhân gian, với tâm thanh thản Mặc cho kiếp người có mong manh kèm chút đắng cay Xin trân quý những điều gì có thể làm hôm nay Lừa dối nhau chi, khi một ngày sẽ mất tất cả !
16/10/2025(Xem: 4332)
Quê nhà đất tổ mãi thân thương Cảnh cũ theo ta suốt dặm trường Lặng lẽ đường lành hoa thắm sắc Âm thầm lối nhỏ lúa thơm hương Bao thu cách trở tâm hằng tưởng Bấy thuở xa xôi ý mãi tường Nghĩa nặng ân sâu lòng khắc dưỡng Dẫu rằng xuôi ngược khắp mười phương .
16/10/2025(Xem: 4423)
Tuổi cao dù lắm cở con rùa. Tích lũy vô vàn niệm được thua. Phú quý vinh hoa tuồng ảo hóa. Lợi quyền danh vị tựa không hoa. Tử sanh bệnh lão vân lai khứ. Thành trụ mê không mộng tỉnh mê. Một kiếp không tu, muôn kiếp khổ. Trần gian tạm trú hãy quay về.
08/10/2025(Xem: 4102)
Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ Đây sa trường đây nấm mộ dân nam Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống Và còn đấy hận phân chia nòi giống Và còn đây cơn ác mộng tương tàn Và còn đây hồn dân việt thác oan Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
06/10/2025(Xem: 7267)
Thư Mời Tham Gia Cuộc Thi Viết chủ đề "Hành Trình Vượt Sóng"
05/10/2025(Xem: 3621)
Một lần học được những danh ngôn tuyệt phẩm (1) Nhủ thầm muốn tìm ra ánh sáng cho chính mình Hãy tự mình đầy nắng , thắp lên ngọn lửa trong tim Là vai diễn thầm lặng trong hành trình nhưng kiên cường và luôn có tình thương rộng mở Dù không phải ban đầu “ngậm thìa vàng”, một kịch bản rực rỡ !
04/10/2025(Xem: 6228)
Cư sĩ Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng, pháp danh Như Ninh, sinh năm 1956 tại Quảng Ngãi, sớm có duyên lành với Phật pháp. Năm lên sáu tuổi (1962), Cư sĩ được quy y với Hòa thượng Thích Trí Hưng tại chùa Từ Lâm, Quảng Ngãi, và chính thức bước vào con đường tu học. Thuở thiếu thời, Cư sĩ là một trong số ít Pháp tử của “Nhóm Thập Thiện”, được đào tạo nghiêm mật về nội điển và ngoại điển, rèn luyện cả trí lực, thể lực và khả năng hùng biện, với sự hướng dẫn tận tình của chư Tôn đức.