Con trâu báo oán

08/08/201104:55(Xem: 13216)
Con trâu báo oán


con trau

CON TRÂU BÁO OÁN

Tôi may mắn chứng kiến
Chuyện này của Thích Ca
Khi Ngài đang tá túc
Trong vườn cây Kỳ Đà.

Triều vua Ba Tư Nặc
Có vị quan đại thần,
Bảy con trai, trong đó
Sáu người đã thành thân.

Ông giàu có, hiền đức,
Tên là Lê Kỳ Di.
Ông nghĩ, còn cậu út
Đã đến tuổi, đến thì.

Phải hỏi vợ cho nó.
Ông muốn tìm con dâu,
Phải thông minh, hiền thảo,
Xinh đẹp, con nhà giàu.

Kén chọn mãi không được,
Trong nước lẫn nước ngoài,
Ông bèn nhờ người bạn
Tìm vợ cho con trai.

Ông này rất hăng hái,
Liền khăn gói lên đường,
Sang tận nước Thị Lợi,
Cách những mấy ngày đường.

Ở đấy ông đã gặp
Năm trăm nữ đồng trinh
Đang hái hoa bên suối,
Mà cô nào cũng xinh.

Khi họ lội qua suối,
Ông nhận thấy một người
Không cởi dép, cứ lội,
Dẫu các bạn chê cười.

Hơn thế, cô thà ướt
Chứ không chịu xắn quần.
Một cô gái bản lĩnh,
Lại xinh đẹp tuyệt trần.

Đến một khu rừng nọ,
Các cô trèo lên cây,
Đua nhau nghịch, hái quả,
Trong khi cô gái này

Đứng yên nhìn các bạn
Hoặc lặng lẽ hái hoa.
Ông lấy thế làm lạ,
Theo cô về tận nhà.

Đến nơi, ông mới biết
Cô gái này là con
Một gia đình giàu có,
Đẳng cấp Bà La Môn.

Ông bố cô có biết 
Lê Kỳ Di đại thần
Nên vui vẻ đồng ý
Để hai nhà kết thân.

Thế là liền sau đó
Lê Kỳ Di dẫn đầu
Một đoàn xe đông đảo
Sang Thị Lợi đón dâu.

Khi quay về, họ gặp
Một quán có nhiều cây.
Vì mệt, ai cũng muốn
Vào nghỉ quán trọ này.

Thế mà cô dâu mới,
Tên là Tỳ Xá Ly,
Bảo bố chồng đừng xuống,
Tiếp tục đánh xe đi.

Một lúc sau, quả thật,
Có đàn voi phát điên
Kéo đến, xô đổ quán,
Dẫm chết mấy người liền.

Đoàn xe lại đi tiếp.
Đến một khe nước nông,
Mọi người muốn dừng nghỉ,
Nhưng cô dâu bảo không.

Chỉ mấy phút sau đó
Nước đâu từ trên cao
Chảy xuống con suối ấy,
Cuộn sóng, réo ào ào.

Ông bố chồng ngồi cạnh,
Chép miệng và gật đầu:
“Hai lần mình thoát chết
Là nhờ có con dâu.”

Ông rất vui, vì vậy,
Khi vừa về đến nhà,
Giao cho cô quản lý
Ruộng đất và tư gia.

Mọi chuyện rất tốt đẹp.
Rồi một thời gian sau
Cô sinh một bọc trứng,
Ba hai quả đều nhau.

Ba hai quả trứng ấy,
Ba hai người con trai.
Lớn lên đều tuấn tú,
Thông minh và có tài.

Duy có người con út
Tính ngỗ nghịch khác người.
Một hôm, cùng bè bạn,
Cậu cưỡi voi đi chơi.

Khi đến chiếc cầu nọ,
Cậu thấy bên kia cầu
Là xe con Tể tướng.
Không ai chịu nhường nhau.

Ai cũng tranh đi trước,
Cậy nhà mình quan to.
Rồi lời qua, tiếng lại,
Rồi xẩy ra đôi co.

Cuối cùng cậu con út
Phớt lờ, coi như không,
Thúc voi, hất đối thủ,
Người và xe xuống sông.

Anh kia về mách bố.
Quan tể tướng thương con,
Thề rửa mối nhục ấy
Quyết một mất một còn.

Thời ấy có luật cấm
Mang vũ khí vào cung.
Trái luật sẽ bị chém.
Luật nghiêm khắc vô cùng.

Tể tướng bày kế độc,
Tặng con Tỳ Xá Ly
Ba hai chiếc roi ngựa
To, bằng da trơn lì.

Ông giấu con dao nhỏ
Trong mỗi chiếc roi này.
Các chàng trai không biết,
Mang vào cung hàng ngày.

Một hôm, quan tể tướng
Ghé tai vua thì thầm.
Vua cho khám roi ngựa
Tìm thấy nhiều dao găm.

Vua liền chiểu theo luật,
Mà luật có từ lâu.
Ba hai chàng trai trẻ
Lập tức bị chém đầu.

Rồi đầu họ bị chém
Cho vào hòm, tức thì
Binh lính mang hòm ấy
Đến nhà Tỳ Xá Ly.

Ở nhà bà lúc ấy
Đang có lễ thọ trai,
Có mặt cả Đức Phật
Và đệ tử của Ngài.

Tưởng vua gửi quà tặng,
Bà định mở ra ngay,
Đức Phật can, đừng mở,
Chờ ăn xong hẵng hay.

Thọ trai xong, Đức Phật
Và đệ tử ra về,
Bà mới cho người mở
Chiếc hòm lớn nặng nề.

Bà suýt ngất khi thấy
Đầu các con trai mình.
May trước đó được Phật
Cứu khỏi vòng vô minh,

Nên bà chỉ than khóc,
Chấp nhận đời phù du,
Có sống thì có chết,
Có oán thì có thù.

Nhưng gia đình đằng vợ
Các con trai của bà
Nghĩ vua giết oan trái
Các chàng rể, thế là

Họ dấy binh chống lại.
Vua phải trốn đi xa,
Tới vườn Cấp Cô Độc
Nương nhờ Phật Tích Ca.

Phiến quân kéo đến đấy,
Nhờ Phật mới chịu yên.
Tôi xin Ngài nói rõ
Mọi người biết nhân duyên.

*
Phật dạy, nhiều kiếp trước,
Có ba mươi hai người,
Đẹp trai và khỏe mạnh,
Một hôm cùng đi chơi.

Khi đến một vùng nọ,
Họ trộm được con trâu,
Quyết định đem mổ thịt,
Ăn thỏa thích với nhau.

Con trâu quì xuống lạy,
Xin tha chết, nếu không
Sau sẽ bị báo oán,
Những chuyện rất đau lòng.

Đức Phật dừng lại nói,
Khi kể xong chuyện này:
“Con trâu của kiếp trước
Là đức vua ngày nay.

Ba mươi hai người nọ
Nỡ lòng giết con trâu,
Nay là đám trai trẻ
Vừa mới bị chặt đầu.”

Mấy ông đằng nhà vợ,
Nghe hiểu chuyện oán ân,
Xin lỗi vua, tạ Phật,
Rồi lặng lẽ rút quân.

Mọi người nghe, chợt hiểu,
Cả tôi, A Nan Đà,
Đảnh lễ trước Đức Phật
Rồi lặng lẽ lui ra.

Thái Bá Tân

31
CON TRÂU BÁO OÁN

Tôi may mắn chứng kiến
Chuyện này của Thích Ca
Khi Ngài đang tá túc
Trong vườn cây Kỳ Đà.

Triều vua Ba Tư Nặc
Có vị quan đại thần,
Bảy con trai, trong đó
Sáu người đã thành thân.

Ông giàu có, hiền đức,
Tên là Lê Kỳ Di.
Ông nghĩ, còn cậu út
Đã đến tuổi, đến thì.

Phải hỏi vợ cho nó.
Ông muốn tìm con dâu,
Phải thông minh, hiền thảo,
Xinh đẹp, con nhà giàu.

Kén chọn mãi không được,
Trong nước lẫn nước ngoài,
Ông bèn nhờ người bạn
Tìm vợ cho con trai.

Ông này rất hăng hái,
Liền khăn gói lên đường,
Sang tận nước Thị Lợi,
Cách những mấy ngày đường.

Ở đấy ông đã gặp
Năm trăm nữ đồng trinh
Đang hái hoa bên suối,
Mà cô nào cũng xinh.

Khi họ lội qua suối,
Ông nhận thấy một người
Không cởi dép, cứ lội,
Dẫu các bạn chê cười.

Hơn thế, cô thà ướt
Chứ không chịu xắn quần.
Một cô gái bản lĩnh,
Lại xinh đẹp tuyệt trần.

Đến một khu rừng nọ,
Các cô trèo lên cây,
Đua nhau nghịch, hái quả,
Trong khi cô gái này

Đứng yên nhìn các bạn
Hoặc lặng lẽ hái hoa.
Ông lấy thế làm lạ,
Theo cô về tận nhà.

Đến nơi, ông mới biết
Cô gái này là con
Một gia đình giàu có,
Đẳng cấp Bà La Môn.

Ông bố cô có biết 
Lê Kỳ Di đại thần
Nên vui vẻ đồng ý
Để hai nhà kết thân.

Thế là liền sau đó
Lê Kỳ Di dẫn đầu
Một đoàn xe đông đảo
Sang Thị Lợi đón dâu.

Khi quay về, họ gặp
Một quán có nhiều cây.
Vì mệt, ai cũng muốn
Vào nghỉ quán trọ này.

Thế mà cô dâu mới,
Tên là Tỳ Xá Ly,
Bảo bố chồng đừng xuống,
Tiếp tục đánh xe đi.

Một lúc sau, quả thật,
Có đàn voi phát điên
Kéo đến, xô đổ quán,
Dẫm chết mấy người liền.

Đoàn xe lại đi tiếp.
Đến một khe nước nông,
Mọi người muốn dừng nghỉ,
Nhưng cô dâu bảo không.

Chỉ mấy phút sau đó
Nước đâu từ trên cao
Chảy xuống con suối ấy,
Cuộn sóng, réo ào ào.

Ông bố chồng ngồi cạnh,
Chép miệng và gật đầu:
“Hai lần mình thoát chết
Là nhờ có con dâu.”

Ông rất vui, vì vậy,
Khi vừa về đến nhà,
Giao cho cô quản lý
Ruộng đất và tư gia.

Mọi chuyện rất tốt đẹp.
Rồi một thời gian sau
Cô sinh một bọc trứng,
Ba hai quả đều nhau.

Ba hai quả trứng ấy,
Ba hai người con trai.
Lớn lên đều tuấn tú,
Thông minh và có tài.

Duy có người con út
Tính ngỗ nghịch khác người.
Một hôm, cùng bè bạn,
Cậu cưỡi voi đi chơi.

Khi đến chiếc cầu nọ,
Cậu thấy bên kia cầu
Là xe con Tể tướng.
Không ai chịu nhường nhau.

Ai cũng tranh đi trước,
Cậy nhà mình quan to.
Rồi lời qua, tiếng lại,
Rồi xẩy ra đôi co.

Cuối cùng cậu con út
Phớt lờ, coi như không,
Thúc voi, hất đối thủ,
Người và xe xuống sông.

Anh kia về mách bố.
Quan tể tướng thương con,
Thề rửa mối nhục ấy
Quyết một mất một còn.

Thời ấy có luật cấm
Mang vũ khí vào cung.
Trái luật sẽ bị chém.
Luật nghiêm khắc vô cùng.

Tể tướng bày kế độc,
Tặng con Tỳ Xá Ly
Ba hai chiếc roi ngựa
To, bằng da trơn lì.

Ông giấu con dao nhỏ
Trong mỗi chiếc roi này.
Các chàng trai không biết,
Mang vào cung hàng ngày.

Một hôm, quan tể tướng
Ghé tai vua thì thầm.
Vua cho khám roi ngựa
Tìm thấy nhiều dao găm.

Vua liền chiểu theo luật,
Mà luật có từ lâu.
Ba hai chàng trai trẻ
Lập tức bị chém đầu.

Rồi đầu họ bị chém
Cho vào hòm, tức thì
Binh lính mang hòm ấy
Đến nhà Tỳ Xá Ly.

Ở nhà bà lúc ấy
Đang có lễ thọ trai,
Có mặt cả Đức Phật
Và đệ tử của Ngài.

Tưởng vua gửi quà tặng,
Bà định mở ra ngay,
Đức Phật can, đừng mở,
Chờ ăn xong hẵng hay.

Thọ trai xong, Đức Phật
Và đệ tử ra về,
Bà mới cho người mở
Chiếc hòm lớn nặng nề.

Bà suýt ngất khi thấy
Đầu các con trai mình.
May trước đó được Phật
Cứu khỏi vòng vô minh,

Nên bà chỉ than khóc,
Chấp nhận đời phù du,
Có sống thì có chết,
Có oán thì có thù.

Nhưng gia đình đằng vợ
Các con trai của bà
Nghĩ vua giết oan trái
Các chàng rể, thế là

Họ dấy binh chống lại.
Vua phải trốn đi xa,
Tới vườn Cấp Cô Độc
Nương nhờ Phật Tích Ca.

Phiến quân kéo đến đấy,
Nhờ Phật mới chịu yên.
Tôi xin Ngài nói rõ
Mọi người biết nhân duyên.

*
Phật dạy, nhiều kiếp trước,
Có ba mươi hai người,
Đẹp trai và khỏe mạnh,
Một hôm cùng đi chơi.

Khi đến một vùng nọ,
Họ trộm được con trâu,
Quyết định đem mổ thịt,
Ăn thỏa thích với nhau.

Con trâu quì xuống lạy,
Xin tha chết, nếu không
Sau sẽ bị báo oán,
Những chuyện rất đau lòng.

Đức Phật dừng lại nói,
Khi kể xong chuyện này:
“Con trâu của kiếp trước
Là đức vua ngày nay.

Ba mươi hai người nọ
Nỡ lòng giết con trâu,
Nay là đám trai trẻ
Vừa mới bị chặt đầu.”

Mấy ông đằng nhà vợ,
Nghe hiểu chuyện oán ân,
Xin lỗi vua, tạ Phật,
Rồi lặng lẽ rút quân.

Mọi người nghe, chợt hiểu,
Cả tôi, A Nan Đà,
Đảnh lễ trước Đức Phật
Rồi lặng lẽ lui ra.

Thái Bá Tân


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2102)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1976)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1674)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1625)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2135)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1624)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1312)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1557)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1842)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2439)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!