Sáu Mươi

05/11/201103:01(Xem: 10670)
Sáu Mươi

Dương Kiền

 

Sáu Mươi

 

1939 - 1949.

 

Ngày 28, đêm tối trời, ở Huế,

Tháng 12 trời giá lạnh căm căm.

Đẻ tôi khóc trong cơn đau hạnh phúc,

Xé lòng ra cho sự sống tươi mầm.

 

Cất tiếng khóc tôi chào mùa lửa đạn,

Thế giới chìm trong tiếng rú cuồng điên.

Lời của đẻ ru buồn hơn tiếng khóc,

Thầy tôi ngồi im lặng những chiều lên.

 

Tôi thơ dại vẫn cười vui với đẻ,

Lẫm chẫm đi níu áo gọi thầy tôi.

Các anh lớn nhường em tô cháo lỏng,

Sáu mươi năm chưa trả được ơn đời.

 

Tôi nhỏ lắm, ngày mùa thu tháng tám,

Quê hương tôi sùng sục những hờn căm.

Tôi ngơ ngác giữa rừng cờ đỏ máu,

Sắc hồng tươi sao nhuốm mt màu tang.

 

Làng Đồng Dụ chạy tản cư ngày ấy,

Quê ngoại ơi, nghèo quá, những đồng không.

Đẻ bương chải ngày cơm rau nửa bữa,

Ôm con thơ nhỏ lệ khóc âm thầm.

 

Anh Lân, anh Hùng trời mưa bắt nhái,

Bằm ra xào với muối thế mà ngon.

Phục hai tuổi chân xiêu không đứng vững,

Thầy vốn ít lời càng ít lời hơn.

 

1950 - 1954.

Hà Nội của tôi,

Hà Nội 50 mờ mờ trí nhớ .

Hà Nội mùa hè Cổ Ngư phượng đỏ,

Hà Nội mùa thu Hoàn Kiếm mờ sương .

Hà Nội lạc rang, kẹo kéo bọc đường,

Quả nhót đỏ tưởng áo mình mưa bụi

Hà Nội những đêm hấp hối,

Giờ giới nghiêm lựu đạn nổ đâu đây.

Thằng H. thất tình đi lính cho Tây,

SuỶt nhảy xuống Điện Biên những giờ phút cuối.

Hà Nội ơi, Hà Nội ơi, thôi đi hấp hối,

Nấc từng cơn, tháng 7, năm tư.

 

Tôi đi, Hà Nội, cuối thu,

Long Biên, cầu sắt, sương mù, gẫy đôi.

Đằng sau Nguyễn Trãi, trường tôi,

Bánh xe lăn, nghiến mảnh đời vỡ tan.

 

1955 - 1963.

Sài Gòn mưa rơi,

Sài Gòn nắng đổ.

Tôi đi hoang mang giữa đường giữa phố,

Nhớ thầy tôi nhắm mắt tuổi chưa cao.

Tôi đi hoang mang giữa trận mưa rào,

Thương đẻ, thương anh, thương mình, bật khóc.

 

Sài Gòn mưa rơi,

Sài Gòn bốc lửa.

Sài Gòn quay cuồng cơn đau lịch sử,

Sài Gòn xuống đường, Sài Gòn đạn nổ.

Sao lòng tôi vẫn đẹp tuổi mười lăm,

Trại Di Cư đàn đúm mấy thằng,

Thằng Hà Huyền Chi, Duyên Anh, NhấtTuấn ...

Thằng Cát, thằng Can, thằng San, thằng Nhuận ...

Chưa ráo máu đầu mơ lấp biển vá trời,

Sách vở không màng trốn học rong chơi,

Thầy Tấn, thầy Khoan lắc đầu ngao ngán.

Tuổi tôi đó, mười lăm mười tám,

Yêu con đường lá đổ me bay.

Nguyễn Du, Tú Xương, Tân Định ... tháng ngày,

Góc phố Hiền Vương, qúan chè Hiển Khánh ...

Yêu Sài Gòn mưa,

Yêu đêm thu lạnh,

Bốn mươi năm như tình lỡ hôm qua.

 

1963 - 1975.

 

Một chín sáu ba

Miền Nam cuốn vào những cơn giông bão.

Những đêm hỏa châu, những tin trên báo,

Cáo phó thằng này, đám táng thằng kia.

Con đầu lòng tôi, cuống rốn chưa lìa,

Cất tiếng khóc đêm 23 hưu chiến.

Tôi đứng giữa trời, đêm đen, thầm nguyện,

Xin đời con đừng giống bố, con ơi!

Nhưng tay tôi nào có với nổi trời,

Khoa sinh Mậu Thân, Khanh mùa hè đỏ lửa!

Những niềm vui có vết đau máu ứa,

Lửa đạn chiến tranh thành lửa đạn đời tôi.

Bảy sáu, khi niềm Nam đã bặt tiếng cười,

Khương chào đời, chào đau thương cả nước.

 

Em yêu ơi,

Chúng ta đã chia nhau hơn nửa cuộc đời

Chúng ta chia nhau rất ít niềm vui, rất nhiều nỗi khổ.

Anh cám ơn em, cám ơn người vợ,

Chịu đau thương trong suốt cuộc đời mình,

Cho lầm lỗi riêng anh,

Cho con chúng ta ra đời vô tội . 

Anh nguyện Đất Trời phút giây sám hối,

Xin Tâm em Phật độ bình anh

Bông Sen hồ Tịnh Tâm nở mãi không tàn,

Đời em đó, thơm hương trong niềm đau nỗi khổ.

 

1975 - 1999

 

Một chín bảy lăm,

Không phải riêng đi tôi sụp đổ,

Không phải riêng con tôi không có miếng ăn.

Tất cả chúng ta tự mất chính mình,

Dù chịu đóng đinh,

              Cũng không thể nào cứu chuộc .

 

Một chín chín chín,

Đời tôi đi lao đao từng bước,

Bước hôm nay không biết bước ngày mai.

Người yêu tôi, người ghét tôi ơi,

Hãy đến với nhau bằng những nụ cười.

Tôi cảm tạ rưng rưng hàng nước mắt.

 

Tôi cám ơn đời, cám ơn tất cả,

Đã cho tôi giây phút yêu thương.

Dù chỉ phút giây, quỶ giá vô cùng,

Đóa hoa nở trong đời tôi giá lạnh.

 

Sáu mươi! Sáu mươi!

Bắt chước người xưa nâng ly mà hát,

Vui mà chi?

Buồn mà chi?

Đời ta chẳng qua hề ly rượu nhạt,

Rượu nhạt mà say hề cứ say đi.

Sáu mươi! Sáu mươi!

Vỗ tay mà hát,

Nâng ly mà hỏi,

Sáu mươi! Sáu mươi!

Đi đâu mà vội

Đi về đâu?

Biết về đâu?

Trăm năm rồi cũng qua cầu ...

 

Dương Kiền

   02.12.1999

***************

                   GỬI DƯƠNG KIỀN

 

Mày buồn hát giọng Sáu Mươi,

Tao nghe sóng nhớ đầy vơi nát lòng.

Già đời bạn với long đong,

Mưa bay Hà Nội cười rung gác mày.

 

Sài Gòn khóc ướt chiều say,

Ngu ngơ tình ái mượn vay tiếng cười.

Chung muôn kỷ niệm quá thời,

Tha hương chung nôi biển trời đớn đau.

 

Tao buồn trắng tóc bạc râu,

Mày than bể ngực khối sầu còn nguyên.

Ráng cười đi nhé bạn hiền,

Thiếu niên mạt lộ, cao niên mạt thời.

 

Sáu Mươi tuổi thẹn qua rồi,

Còn bao năm nưa ngậm ngùi với quê?

Người rằng sống gửi thác về,

Rượu rằng: sống thác đâu hề hấn chi.

 

Hà hà...mai mốt cụng ly,

Còn không lệ sảng mà chia với đời?

Khóc cho sinh bất phùng thời,

Khóc thân tơi tả, khóc người lầm than.

 

Khóc cho điêu đứng Việt Nam,

Ô hô!!! xương lạnh mồ oan bốn trời.

 

                                hàhuyềnchi

                                Noel 2000

 

 

 

(Cảm đề bài thơ 60  Dương Kiền)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2118)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 2000)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1684)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1652)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2146)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1633)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1355)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1577)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1869)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2456)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!