Mười bài kệ chăn trâu

27/03/201317:59(Xem: 16711)
Mười bài kệ chăn trâu

Fieldskyline

Mười Bài Kệ Chăn Trâu

Thích Quảng Độ dịch


Tìm Trâu

Nước biếc non xanh nhuộm một mầu
Um tùm lối cỏ biết tìm đâu ?
Hơi tàn chân mỏi hồn hiu quạnh
Chiều xuống ve kêu gợi nỗi sầu

Thấy Dấu Chân Trâu

Ven suối bìa rừng in dấu chân
Hỏi tin hoa lá đứng tần ngần
Trời xa ráng nhạt mờ sương khói
Núi thẳm rừng sâu một chiếc thân

Thoáng Thấy Bóng Trâu

Trên cành thỏ thẻ tiếng hoàng anh
Gió nhẹ trời quang dặm liễu xanh
Thấp thoáng đâu đây hình bóng cũ
Mơ màng giấc mộng vẫn chưa thành

Đã Bắt Được Trâu

Giờ đây trâu đã dắt nơi tay
Cố giữ làm sao khỏi tuột dây
Có lúc như trèo lên đỉnh núi
Nhưng rồi chợt thấy ngủ trong mây !

Chăn Trâu

Sợ quen đường cũ lại đi hoang
Từng phút từng giây phải buộc ràng
Đến một ngày kia nên thuần thục
Tha hồ trời rộng bước thênh thang

Cưỡi Trâu Về Nhà

Cưỡi trâu lững thững trở về nhà
Tiếng địch chiều thu tiễn ráng xa
Bát ngát bốn bề hương trầm tỏa
Tri âm nào biết cõi lòng ta

Quên Trâu Còn Người

Cưỡi trâu giờ đã đến nhà rồi
Roi gác trâu buông ngủ thảnh thơi
Rực rỡ vừng hồng còn dệt mộng
Trong gian nhà cỏ một mình thôi

Quên Người Và Trâu

Trâu người nhà cỏ thảy đều không
Lồng lộng trời xanh tin chẳng thông
Sợi tuyết trên lò đang rực lửa
Đến được đấy rồi hợp tổ tông

Về Nguồn

Tìm lối quay về những uổng công
Nào biết xưa nay lí vốn không
Trước mắt bao la nhưng chẳng thấy
Hoa cười tươi thắm nước mênh mông

Thõng Tay Vào Chợ

Mình trần lem luốc cười ha ha
Ngất ngưỡng rong chơi chốn chợ xa
Phép lạ thần tiên không màng tới
Cây cỗi cành khô khiến trổ hoa !

Thích Quảng Độ dịch
Sài Gòn, mùng 1 tết Kỉ mão
(Ngày 16.02.1999)

---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/10/2014(Xem: 21937)
Nói thiệt, tôi chẳng biết ông Lê Hựu Hà nghĩ gì khi viết bảy chữ này. Nhưng tôi đã xem đó như một đề nghị rất Phật giáo. Tôi chưa hề là một thiền sinh nghiêm túc, nói gì là thiền sư. Tôi chỉ là kẻ lãng du trong cõi Phật pháp và thỉnh thoảng ghé chơi dăm khu vườn văn nghệ như một cách nghỉ chân. Và chính bảy chữ đó của người nhạc sĩ họ Lê từ lâu đã là một khẩu quyết cho tôi những khi nghe, đọc, ngắm nhìn cái gì đó tình cờ bắt gặp. Chẳng hạn tôi đã yêu ca dao Việt Nam từ những lời rất lạ.
08/10/2014(Xem: 14803)
Chiều nay nắng ghé sân chùa Đậu lung linh đủ để vừa đề thơ Nắng vờn vạt áo thiền sư Hình như nắng thích phù du đường trần
07/10/2014(Xem: 14102)
Hạnh phúc thay khi Tăng già hòa hợp Cùng “Về nguồn” để “Hiệp Kỵ” vinh danh Bảy kỳ qua tố chức được viên thành Nay Pháp Bảo Úc châu kỳ thứ tám Chư Tôn Đức Tăng Ni đều đồng cảm Trông mong ngày hội ngộ để sẻ chia Những mưu toan áp lực muốn cắt lìa
07/10/2014(Xem: 15643)
Năm xưa ở nơi này, Đại chúng hội về đây, Lạc thành và Đại hội, Bốn chúng thật đủ đầy. Rồi cũng hai năm trước, Ghé thăm trước khi về, Mọi chuyện còn dang dỡ, Tuy nhiên cũng Ô-kê.
07/10/2014(Xem: 13659)
Tuyệt trần hoa nở chào đêm Vườn sau ứ rác nhũn mềm nhớp nhơ Trăng soi ma mị mập mờ Triêu dương tôi đón vần thơ nắng hiền.
06/10/2014(Xem: 18249)
Đêm mơ tôi hái được trăng Cài lên ngực áo lam vầng vàng hoe Mang trăng trên áo tôi về Ghim nơi áo trắng miền quê học trò Chập chờn bừng mắt giữa mơ Mẹ ngồi bên ánh đèn mờ cắt may
06/10/2014(Xem: 21095)
Thông thường, trong một tác phẩm văn học nghệ thuật, lời Tựa mở đầu bao giờ cũng được tác giả tự bộc bạch, thổ lộ, diễn bày rất cẩn trọng dài dòng, để người đọc dễ lãnh hội sâu vào nội dung tác phẩm đó, nhưng với Triều Nguyên thì lại hoàn toàn khác hẳn, khi viết Tựa cho tập thơ đầu tay Bay Đi Hạt Cát của mình, thi sĩ chỉ có một câu duy nhất, thật vô cùng giản dị : “Sa mạc buồn thương hạt cát bay đi…” Giản dị đơn sơ mà độc đáo, thể hiện một cốt cách đặc thù riêng biệt trên con đường sáng tạo, ngao du qua những phương trời ngôn ngữ thi ca quá mộng dập dìu.
04/10/2014(Xem: 13451)
Chân Tăng giảng lý Đạo suốt thông Đáp ân Phật Tổ trọn tấm lòng Khiến người hiểu thấu hành cách sống Hướng đường Giải Thoát bước thong dong.
04/10/2014(Xem: 16221)
Sau Bức Màn Mây Thả mây bay về núi đồi Thênh thang vùng trời Vô Niệm Còn nguyên đó dáng ai ngồi Nhìn hoa môi cười chúm chím
02/10/2014(Xem: 18883)
Đây là một bài thơ rất nổi tiếng của Kenji Miyazawa (1896-1933)*: Nhà phía đông có đứa trẻ ốm, Ta sang săn sóc, Nhà phía tây có bà mẹ gầy, Ta mang cho túi gạo, Nhà phía nam có người đang chết, Ta sang khuyên đừng sợ, Nhà phía bắc đang kiện cáo nhau, Ta sang can thôi bỏ đi.