Thanh sắc thi ca

26/03/201319:34(Xem: 15637)
Thanh sắc thi ca

THANH SẮC THI CA

Tuệ Sỹ



Cám ơn ông hàng xóm

Ngừng mở máy thu thanh

Võng đưa thềm mận chín

Nghe sẻ gọi bình minh.

(Mộng Ngân Sơn)

Niềm vui đơn sơ của nhà thơ ở vào con số 12 đường Bến Chợ là như vậy đó. Tiếng sẻ gọi nhau trong nắng mai thật quá hiếm giữa những âm thanh rộn ràng khác. Trước mặt nhà của nhà thơ Quách Tấn chúng ta, đây là ngôi chợ Đầm của thành phố Nha Trang với lối kiến trúc tân tiến. Nhưng trước kia, chỗ này là một đầm sen. Một cái đầm sen ở ngay giữa thành phố; chúng ta có thể hiểu được tâm sự lạc loài của một nhà thơnặng tình ấp ủ thiên nhiên như Quách Tấn. Mặc dù vẫn mang những tính chất náo nhiệt của một phố thịkiểu mẫu của thế kỷ này. Nha Trang thỉnh thoảng vãn trầm mình trong hương sắc diễm lệ của mùa thu. Cho nên nhà thơ của chúng ta vẫn là bóng dáng một lữ khách mùa thu của một thời đại quá khứ còn sót lại giữa những bước chân nhộn nhịp của chúng ta, của thanh niên trưởng thành trong thế kỷ hai mươi:

Áo giũ ngàn sương gió

Lên chùa thăm cố nhân

Non nghiêng thềm bóng xế

Lịu địu bóng nhàn vân.

Lịu địu (MNS)

Phong cách ấy quả thực có khác với chúng ta trong những thù tạc vãng lai. Chúng ta đến và đi trong âm thanh và tốc độ của cơ khí, ồn ào và vội vã. Do bản chất cơ khí, nghĩa là sự hiện hữu bằng những phản lực bị dồn ép và bị bùng vỡ, mà thời đại chúng ta mang nặng tính chất chiến đấu, bạo động: những nổi loạn trong triết lý, trong văn học; những phong trào quần chúng, những nổi loạn của sinh viên thế giới… Thế thì, thời đại ấy của nhà thơ ấy là thời đại ẩn mình trầm lặng, của một đám mây lơ lửng lồng trong bóng núi nghiêng nghiêng. Là thời đại của một Vương Duy tiễn bạn trong chén rượu Vị Thành, của một Gia Đảo lên núi tìm bạn, hay một Lữ Đường nơi chùa Phổ Lại, một Nguyễn Du trong dãy Hồng Linh?

Đạo dịch nói: “ Thiên nhiên biến động trong bất động. Nếu lửa là biểu tượng cho sự tiến hoá không ngừng, thì núi là biểu tượng cho sự an định, tỉnh chỉ. Cuộc lữ không chỉ duy một mặt là cuộc hành trình vô tận. Nhưng đó là những bước đi trên con đường Đạo – Chân thường vĩnh cửu. Núi có thể được san bằng để cho phố thị mọc lên, biển có thể bị lấp cạn để trở thành xa lộ. Dù đến mức như vậy, mối tương quan bản thể giữa con người và thiên nhiên vẫn tràn đầy trong đồng nhất tính hồn nhiên. Miếng vỏ sò lạc loài trên núi vẫn mang trong bản chất tồn tại của nó một nổi hoài hương tha thiết, nó mơ về những đợt sóng của trùng dương:

Vỏ sò khô ấp ủ

Niềm băng tuyết đêm sương

Muôn xa bờ bến cũ

Vang vọng sóng trùng dương.

Ấp ủ (MNS)

Nhà thơ của chúng ta trong một thoáng rung động kỳ diệu nào đó đã đọc ra bản chất tồn tại sâu xa của tạo vật. Cũng chỉ với tâm hồn ấy mới có thể đọc ra những ẩn ngữ ấy trong lớp vỏ vô tri và vô nghĩa ấy.

Tất nhiên nhà thơ vẫn ở trong dòng thác cuộn ào ạc theo bước tiến lịch sử của con người, nhưng trong cuộc hành trình vô tận ấy nhà thơ có thể đạt được tận cùng về bản chất lữ thứ của mình, vì trong tận cùng tâm sự vẫn là một nỗi hoài hương bao la. Quê hương hiện thực của ông ở đâu? Ở trong đất Việt trời Nam này, trong bóng chùa ẩn giữa mây trắng; trong tiếng chuông khuya sớm, những tiếng sáo chiều. Đấy là những hình ảnh, những “ thanh” và “ sắc”, mà thiên nhiên vô hình thực hiện trong cụ thể hữu hình:

Chùa ẩn non mây trắng

Bóng in hàng liễu xanh

Mai chiều chuông đã tạnh

Vòng sóng còn long lanh.

Tiếng ngân

( Giọt Trăng)

Đấy và những gì tương tự như thế đấy, là hình ảnh thiên nhiên đầy tình tự, là khoảng trời xanh tinh khiết còn lại trong đôi mắt long lanh của một nhà thơ trong cảnh xế chiều của chính đời mình, và của cả một thời đại thi ca Việt Nam. Tiếng chuông chùa Hải Đức trên đồi trại thuỷ kia, sát bên thành phố ấy, sớm và chiều vẫn lạc loài, lan xa trong cô độc, trong sự sống của thành phố đang trôi đi dưới những tiếng nổ ròn rã và tốc độ� vội vàng của đủ các loại động cơ. Những tiếng chuông lạc loài, một hồn thơ cô quạnh, và còn gì nữa? Những giọt lệ – những giọt lệ đoàn viên trong nỗi hoài thương tha thiết:

Từng giọt châu rơi mắt mẹ hiền

Mừng con lưu lạc trở đoàn viên

Neo thu bến tạnh thuyền sương sóng

In bóng chùa xưa trăng nửa hiên.

Chuông khuya

( Đọng bóng chiều)

Vậy thiên nhiên có nói gì chăng? Thì đấy: bốn mùa đến rồi đi, và rồi lại đến. Nhưng ngôn ngữ của loài người là gì, trên một cung bậc nào đó?

(Trích từ tập “Quách Tấn - Qua cái nhìn văn học của nhiều tác giả – Nhà xuất bản trẻ – 1994”)

---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/03/2015(Xem: 23429)
Đêm ngày 29/03/2015 tại Viện Âm nhạc quốc gia đã diễn ra chương trình Hát trong vườn xưa - Đêm thơ nhạc của Thầy Nhất Hạnh và các học trò. Một chương trình thật ý nghĩa và tạo nhiều cảm xúc được đồng tổ chức bởi Thái Hà Books, Life TV và VIM.
30/03/2015(Xem: 11552)
Nguyện đem tất cả chân tình Hiến dâng đời đạo nhân sinh cõi này Nguyện làm được việc gì hay Giúp cho nhân thế mỗi ngày tốt hơn Nguyện không ganh ghét oán hờn Giữ tâm kiên cố không sờn chí tu Nguyện hằng tinh tấn công phu
29/03/2015(Xem: 12809)
Giờ này cánh đồng cỏ cây hoa lá Ươm sắc hương theo gió nhẹ nhàng Quả đen tầm gửi bắt đầu thả bóng Chiều đổ xuống, nép mình dưới lá vàng
27/03/2015(Xem: 16715)
Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày. Thấy lạ, có người hỏi: - Tại sao ông vui tươi mãi như thế? Ông lão đáp: -Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất, “Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người. Ấy là điều sướng thứ nhất. -Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn, ấy là điều sướng thứ hai -Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa, không lo lắng gì cả. Ấy là điều sướng thứ ba - Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai tránh được. Ta cũng như mọi người, việc gì phải buồn. - Nghĩ tới ba điều sướng ta có được, ta vui ca cũng là chuyện thường tình, mắc mớ chi phải hỏi.
26/03/2015(Xem: 12813)
Lạy Mình Ghé tay sờ gốc Bồ Đề Con xin chút lực dội về trong Tâm Nguyện lòng vun xới quanh năm Hằng ngày bái lạy niệm "Nam Mô... Mình!"
25/03/2015(Xem: 20883)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
25/03/2015(Xem: 17169)
Thấy đời khổ quyết tìm đường cứu khổ Mặc dầu đang sống nhung lụa quyền uy Trong bốn mùa có cung điện theo tùy Với vợ đẹp con ngoan người hầu hạ
20/03/2015(Xem: 15855)
Hoằng dương Pháp thoát luân hồi sinh tử Giác chu toàn cứu cánh (1) của đời tu Cất bước cao ra khỏi chốn ngục tù Nhiếp ma quân hướng về nơi Cực lạc
20/03/2015(Xem: 14052)
Khép cánh Phù Du (thơ)
19/03/2015(Xem: 14067)
Tháng Giêng, Di Lặc tươi cười, Cùng bầy ngũ tặc vui chơi thiện lành. Tháng Hai là tháng học hành, Khẩu, thân, ý, chính là nguồn sân si. Tháng Ba, học “Đà Ra Ni”, Bút nghiên kinh kệ nhớ ghi hằng ngày.