Chùa Viên Giác ở phố cổ Hội An, Quảng Nam

01/08/202516:17(Xem: 1262)
Chùa Viên Giác ở phố cổ Hội An, Quảng Nam

CHÙA VIÊN GIÁC
 Ở PHỐ CỔ HỘI AN

 

                                                                                                                               

Chùa Viên Giác tọa lạc tại khối phố Tu Lễ, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hội An, thành phố Đà Nẵng. Chùa được dân làng Cẩm Phô trùng tạo vào năm Thiệu Trị nguyên niên, Tân Sửu (1841), tính đến nay đã được 184 năm. Với chiều dài lịch sử gần hai thế kỷ gắn bó cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc và đạo pháp, chùa Viên Giác đã đóng góp phần nhỏ của mình trong sự phát triển của lịch sử Phật giáo Quảng Nam trong quá khứ và hiện tại.

Theo văn bia do Phó bảng Nguyễn Tường Vĩnh soạn năm Nhâm Dần (1842), chùa Viên Giác nguyên thủy vốn do một thiền sư người làng Cẩm Phô sáng lập dưới thời các chúa Nguyễn. Đến cuộc chiến Tây Sơn và Nguyễn Gia Long, chùa bị binh hỏa thiêu rụi, tăng đồ ly tán nên dần suy tàn, chỉ còn phế tích. Tháng 5 năm Tân Sửu (1841), Thiệu Trị nguyên niên, dân làng cảm nhớ cảnh xưa nên dùng gỗ cây của một ngôi chùa tại xứ Xuyên Trung, xã Cẩm Phô để phục dựng lại chùa cũ và lấy tên là Viên Giác Tự. Hiện nay trên cây xa cò chùa còn ghi rõ “Thiệu Trị nguyên niên, tuế thứ Tân Sửu trọng Hạ nguyệt kiết nhật Cẩm Phô xã viên chức bổn xã tịnh Đông Tây nhị phái đồng trùng tạo”. Nghĩa là vào ngày tốt tháng 6 năm Thiệu Trị thứ nhất, Tân Sửu (1841) viên chức xã Cẩm Phô cùng với hai phái Đông Tây cùng trùng tu tái tạo.

Sau khi trùng tạo, dân làng đã cung thỉnh thiền sư Toàn Võ - Viên Quang đệ tử tổ Pháp Kiêm - Minh Giác từ tổ đình Phước Lâm về trụ trì. Năm Canh Tuất (1850), niên hiệu Tự Đức thứ 3, thiền sư Viên Quang tạc bộ tượng Ngọc Hoàng thượng đế, Thập điện Diêm vương v.v... để phụng thờ tại chùa.

Sau thời thiền sư Viên Quang trụ trì, vì không có Tăng nhân kế thừa nên sự sinh hoạt của chùa lúc bấy giờ do làng quản lý, cũng chỉ mở cửa theo lệ Tam Ngươn Tứ Quý, còn lại thì đóng cửa quanh năm nên ngôi chùa lại bị xuống cấp. Do vậy, các năm Kỷ Sửu (1889) và Đinh Sửu (1937) dân làng cũng đã hai lần trùng tu và chỉnh trang lại Chánh điện.

Năm Bính Tuất (1946), thân hào xã Cẩm Phô sắm lễ ra tổ đình Chúc Thánh xin đức Tăng cang Thích Thiện Quả cho thỉnh một thầy về làm giám tự. Ban đầu là thầy Như Đương (tức thầy Mười), kế đến là thầy Như Hảo (tức thầy Chất) được cử về trông coi chùa Viên Giác. Nhưng do tuổi già sức yếu nên các công tác Phật sự bổn tự qua nhiều năm dường như không phát triển. Sau đó, thân hào và nhân dân của xã hiến cúng chùa Viên Giác cho Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng.

Vào tháng 6 năm Kỷ Sửu (1949), Giáo hội làm lễ tiếp nhận chùa và suy cử Đại đức Thích Long Trí về làm Tự trưởng và chính thức trụ trì vào năm Tân Mão (1951).

Năm Nhâm Thìn (1952), Đại đức trụ trì tiến hành quy hoạch lại đất chùa để chuẩn bị cho các công tác xây dựng về sau.

Năm Quý Tỵ (1953), Đại đức trụ trì xây dựng trường Tiểu học Khai Trí[1] ở phía Đông chùa để tạo điều kiện cho con em có hoàn cảnh khó khăn được học hành.

Năm Ất Mùi (1955), xây dựng nhà Tăng phía trái chánh điện.

Năm Bính Thân (1956), tu sửa lại Chánh điện và trang nghiêm nơi thờ tự.

Năm Giáp Thìn (1964), xây dựng văn phòng Thanh niên Phật tử Quảng Nam[2].

Năm Ất Tỵ (1965), xây hai lầu chuông trống và tu bổ cổng tam quan.

Năm Bính Ngọ (1966), xây dựng Giảng đường để đáp ứng nhu cầu tu học của đồng bào Phật tử.

Trong những lần pháp nạn 1963, 1966, chùa Viên Giác là trung tâm tranh đấu bảo vệ tự do tín ngưỡng cũng như độc lập chủ quyền đất nước. Các vị Thánh tử đạo: Lê Đình Linh, Nguyễn Cúc, Nguyễn Dần, Văn Bá Hoành, Phạm Hữu Diện, Phạm Hữu Nghiệp, Bùi Xuân Hiền v.v...đã nằm xuống để bảo vệ Đạo pháp. Viên Giác là trụ sở của Gia đình Phật tử Quảng Nam.

Năm Nhâm Tý (1972), Mặt trận cứu đói miền Trung được thành lập và văn phòng được đặt tại chùa Viên Giác.

Năm Canh Thân (1980), Thượng tọa Thích Như Huệ sang Úc hoằng pháp nên Thượng tọa Thích Long Trí được Giáo hội suy cử làm trụ trì chùa Pháp Bảo để tiện việc điều hành Giáo hội. Vì thế, mọi sinh hoạt của chùa Viên Giác gần như gián đoạn.

Năm Ất Sửu (1985), chùa Viên Giác được Bộ văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Nơi đây còn lưu giữ một số di vật xưa như: Quả chuông đúc vào năm Gia Long thứ 13, Giáp Tuất (1814); Bốn tấm văn bia trùng tu chùa, hai tấm có niên đại Thiệu Trị nhị niên, Nhâm Dần (1842) và hai tấm có niên đại Thành Thái nguyên niên, Kỷ Sửu (1889), các tảng đá bó vỉa thế kỷ 18, một số pho tượng bằng đất nung rất có giá trị về mặt mỹ thuật v.v...

Năm Canh Ngọ (1990), Thượng tọa Thích Long Trí về lại Viên Giác trùng tu bổn tự và lễ khánh thành được tổ chức vào rằm tháng 8 cùng năm. Từ đây, Hòa thượng trực tiếp điều hành Phật sự tại Viên Giác cho đến ngày viên tịch 13 tháng 9 năm Mậu Dần (1/11/1998).

Sau khi Hòa thượng Thích Long Trí viên tịch, Thượng tọa Thích Như Điển trưởng pháp tử kế thừa trụ trì chùa Viên Giác. Đến năm Quý Mùi (2003), Hòa thượng Thích Như Điển vì điều kiện hành đạo phương xa nên đã uỷ cử Đại đức Thích Như Tịnh tiếp nhiệm trụ trì chùa Viên Giác.

Kế nghiệp Hòa thượng bổn sư, Hòa thượng Thích Như Điển và Đại đức Thích Như Tịnh đã từng bước kiến tạo các công trình như sau:

Năm Mậu Dần (1998) kiến tạo bảo tháp Cố Hòa thượng Bổn sư.

Năm Quý Mùi (2003) tạo tượng Thập Bát La Hán.

Năm Mậu Tý (2008) chú nguyện đúc Đại hồng chung

Năm Kỷ Sửu (2009) kiến tạo tháp chuông.

Năm Canh Dần (2010) tạo tượng Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền.

Năm Giáp Ngọ (2014) mua lại mảnh đất của anh Nguyễn Tấn Hồng để mở rộng khuôn viên chùa.

Năm Ất Mùi (2015) kiến tạo Chương Đức Đường thờ Hòa thượng Bổn sư và cũng là Tổ đường của tông phong Viên Giác.

Năm Bính Thân (2016) kiến tạo Tây đường và năm Mậu Tuất (2018), kiến tạo Đông đường.

Trải qua 30 năm phong sương tuế nguyệt cùng với những cơn bão lũ lịch sử năm 1999 và 2017, chùa Viên Giác chìm trong biển nước khiến cho ngôi Chánh điện bị xuống cấp trầm trọng. Do đó, Hòa thượng phương trượng, Đại đức trụ trì và tông môn huynh đệ quyết định trùng tu ngôi Đại hùng bảo điện. Vào ngày 25 tháng 2 năm Kỷ Hợi, nhằm ngày 30 tháng 3 năm 2019, chùa chính thức đặt đá khởi công trùng tu Đại hùng bảo điện chùa Viên Giác.

Sau hơn 2 năm xây dựng thì ngôi Chánh điện cũng đã hoàn tất. Vào ngày mồng 7 tháng 3 năm Tân Sửu (17/4/2021) lễ An vị Phật và khánh tạ Tam bảo được cử hành trong niềm hân hoan của đại chúng.

Gần 50 năm trụ trì, hòa thượng Thích Long Trí đã kiến tạo chùa Viên Giác từ một ngôi chùa làng thành một ngôi Phạm vũ trang nghiêm, đóng một vai trò không nhỏ trong sự phát triển của Phật giáo Quảng Nam trong những thập niên cuối thế kỷ XX. Đến nay, chùa đã trùng tu chánh điện khang trang, giữ được kiến trúc xưa, góp phần trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.

 



[1] Trường này sau dùng làm nhà chúng. Đến năm 1990, trong lần trùng tu chùa, Hòa thượng trụ trì cho tháo lấy ngói lợp qua Chánh điện và triệt hạ vào những năm sau đó.

[2] Cơ sở này bị tháo dỡ để kiến tạo tháp chuông hiện nay.



chua vien giac-hoi an (1)chua vien giac-hoi an (2)chua vien giac-hoi an (3)chua vien giac-hoi an (4)chua vien giac-hoi an (5)chua vien giac-hoi an (6)chua vien giac-hoi an (7)chua vien giac-hoi an (8)chua vien giac-hoi an (9)chua vien giac-hoi an (10)chua vien giac-hoi an (11)chua vien giac-hoi an (12)chua vien giac-hoi an (13)chua vien giac-hoi an (14)chua vien giac-hoi an (15)chua vien giac-hoi an (16)chua vien giac-hoi an (17)chua vien giac-hoi an (18)chua vien giac-hoi an (19)chua vien giac-hoi an (20)chua vien giac-hoi an (21)chua vien giac-hoi an (22)chua vien giac-hoi an (23)chua vien giac-hoi an (24)chua vien giac-hoi an (25)chua vien giac-hoi an (26)chua vien giac-hoi an (27)chua vien giac-hoi an (28)chua vien giac-hoi an (29)chua vien giac-hoi an (30)chua vien giac-hoi an (31)chua vien giac-hoi an (32)chua vien giac-hoi an (33)chua vien giac-hoi an (34)chua vien giac-hoi an (35)chua vien giac-hoi an (36)chua vien giac-hoi an (37)chua vien giac-hoi an (38)chua vien giac-hoi an (39)chua vien giac-hoi an (40)chua vien giac-hoi an (41)chua vien giac-hoi an (42)chua vien giac-hoi an (43)chua vien giac-hoi an (44)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2020(Xem: 6244)
Chùa Thanh Xuân thuộc địa danh làng Thanh Xuân Xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nằm dọc duyên hải miền trung bờ nam biển Cửa Việt; cuối nguồn hai nhánh sông Thạch Hãn, Vĩnh Định đổ ra biển. Theo dân làng kể lại, đời tổ tiên ông bà xuất phát ra lập làng từ đời triều Nguyễn ở Huế, hai họ Phan, họ Trần theo dòng Vĩnh Định ra Quảng Trị xuôi nguồn về đây. Lập tên làng Thanh Xuân, trong đó Xuân là lấy lại từ nguồn gốc thành Phú Xuân, cũng như các làng Xuân Thành, Dương Xuân vậy.
15/09/2020(Xem: 18619)
Chùa tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa quay hướng Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu. Chùa được Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung dựng vào cuối thế kỷ 17 tại ngọn đồi thấp Hoàng Long Sơn, có tên thiền thất Ấn Tôn. Năm Nhâm Thìn (1712), ngài Thiệt Diệu Liễu Quán, quê ở Phú Yên là đệ tử đắc pháp của Sơ tổ Minh Hoằng Tử Dung, được ngài truyền tâm ấn, trở thành đệ nhị Tổ. Ngài Thiệt Diệu Liễu Quán đã phát triển dòng thiền Lâm Tế cho đến ngày nay.
13/09/2020(Xem: 20369)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
11/09/2020(Xem: 6399)
Chùa Hà Trung tọa lạc ở làng Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa cách trung tâm thành phố Huế khoảng 50 km. Chùa được lập vào thời Hậu Lê, gắn với hành trạng Thiền sư Nguyên Thiều. Thiền sư từ Quảng Đông, Trung Quốc sang Quy Nhơn lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập chùa Quốc Ân. Năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu cử ngài đến trụ trì chùa Hà Trung. Ngôi chùa ngày nay được trùng tu năm 1995, đại trùng tu năm 2009. Trụ trì chùa là Hòa thượng Thích Chơn Tế (trụ trì chùa Tường Vân, Huế kiêm nhiệm), Tri sự là Đại đức Thích Quảng Huệ.
11/09/2020(Xem: 6991)
Thông Điệp Của Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu (Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN thân gởi Chư Tôn Đức Tăng Ni và Đồng Bào Phật tử Hải Ngoại)
09/09/2020(Xem: 6825)
Chùa Diệu Đế tọa lạc bên bờ sông Hộ Thành (sông Gia Hội) số 110 Bạch Đằng, phường Phú Cát, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa có diện tích hơn 10.000m2. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi. Đây là nơi Hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, con vua Minh Mạng ra đời vào ngày 16/6/1807. Năm 1841, Hoàng tử lên ngôi vua ở kinh thành Huế, lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
07/09/2020(Xem: 12619)
Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Long (trên đất làng Thụy Lôi xưa, gần xóm Lịch Đợi), đường Báo Quốc, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong (du tăng người Quảng Đông, Trung Quốc) dựng vào cuối thế kỷ 17, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần, nơi ngài Liễu Quán đến học đạo và ở lại trong 11 năm. Tổ Giác Phong viên tịch năm 1714. Đến năm 1747, Hiếu Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu chùa và ban cho chùa tấm biển chữ Hán “Sắc Tứ Báo Quốc Tự”, bên trái có ghi hàng chữ Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề, bên phải có dòng lạc khoản Cảnh Hưng bát niên hạ ngũ nguyệt cát nhật. Ngoài ra còn có dấu chạm khắc hình bốn cái ấn, một cái triện tròn khắc chữ Quốc Chúa Nam Hà. Trụ trì chùa thời gian này là Thiền sư Tế Nhơn, một trong những cao đệ đắc pháp của Tổ Liễu Quán. Kế thế trụ trì là các ngài Tế Ân, Trí Hải, Đại Trí …
05/09/2020(Xem: 14064)
Chùa Giác Lâm tọa lạc tại số 02 kiệt 56 đường Duy Tân, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nguyên là một thảo am do Tổ Giác Hải, người làng Trung Kiên, tỉnh Quảng Trị khai sáng vào ngày 16 tháng 3 năm Đinh Dậu (1897) trên một triền đồi, dưới chân núi Ngự Bình, đặt tên Duy Tôn Tự để truyền bá chánh pháp, đem đạo Phật phổ hóa vào những nơi xa xôi, hẻo lánh. Tổ có thế danh là Nguyễn Văn Cẩm, sinh trưởng trong một gia đình tín tâm với đạo Phật. Ngài là đệ tử của Tổ Tâm Tịnh, khai sáng Tổ đình Tây Thiên, Huế. Ngài có pháp danh là Trừng Nhã, tự Chí Thanh, hiệu Giác Hải.
30/08/2020(Xem: 8433)
Chùa Thiên Mụ thường gọi là chùa Linh Mụ, tọa lạc trên đồi Hà Khê, đường Nguyễn Phúc Nguyên, xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nằm ở bờ bắc sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế 5km. Sách Ô Châu cận lụccủa Tiến sĩ Dương Văn An cho biết chùa Thiên Mụ ở phía nam xã Giang Đạm, huyện Kim Trà, nóc ở đỉnh núi, chân gối dòng sông. Chùa được chúa Tiên - Nguyễn Hoàng cho xây dựng vào năm 1601. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa khang trang. Năm 1695, Thiền sư Thạch Liêm, người Trung Quốc, được chúa Nguyễn mời làm trụ trì chùa. Từ chùa Thiên Mụ và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài đã truyền bá Thiền phái Tào Động ở đàng Trong.Hòa thượng Thạch Liêm đã tả cảnh chùa Thiên Mụ: “Đêm 15 trời mưa, ra đến chùa Thiên Mụ. Chùa này tức Vương phủ ngày xưa (?) chung quanh có trồng nhiều cây cổ thụ, day mặt ra bờ sông; trước chùa ngư phủ, tiều phu tấp nập sớm chiều qua lại. Trong chùa cột kèo chạm trổ rất tinh xảo …” (1)
29/08/2020(Xem: 7206)
Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang thường được gọi là Chùa Sắc Tứ,Tịnh Quang Tự, Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang, tọa lạc ở thôn Ái Tử, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chùa là một trong những ngôi tổ đình được xây dựng sớm và có ảnh hưởng lớn Phật giáo xứ Đàng Trong. Chùa ban đầu có tên là Am Tịnh Độ. Từ điển Di tích Văn hóa Việt Nam(1) cho biết chùa do Hòa thượng Tu Pháp, tự Chí Khả khai sáng vào năm 1739 đời Vua Lê Ý Tông (năm thứ hai đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát) với tên là Tịnh Nghiệp Tự. Đến đời Vua Gia Long, vua ban tên gọi là Tịnh Quang Tự. Chùa được trùng tu năm Minh Mạng thứ 21 (1941).