Bồ Đề Nguyên Thiều

20/06/202507:45(Xem: 1137)
Bồ Đề Nguyên Thiều


tu vien nguyen thieu-phat to

BỒ ĐỀ NGUYÊN THIỀU

 

Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn. Nghìn năm trước tháp kiêu hãnh dưới bầu trời xanh, nghìn năm sau tháp cô quạnh giữa dòng đời xuôi ngược. Trong tám tháng lưu lại ở Chăm Pa, có thể thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến viếng tháp này vì tháp không xa kinh đô Đồ Bàn (Vijaya) là mấy. Lịch sử thịnh – suy rất vô thường, sự - yếu mạnh thay đổi liên tục… Đến năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang đại quân đến đây và đã cho phá huỷ kinh đô Đồ Bàn, cả vùng đất này nhập vào Đại Việt.

Dưới chân tháp Bạc (dân địa phương gọi là tháp Bánh Ít) ngày nay có một tu viện được vinh hạnh mang tên của một vị thiền sư lỗi lạc, người đã hoằng hóa và phát triển Phật giáo Đàng Trong từ những năm 1867 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, đó là thiền sư Nguyên Thiều. Ngôi già lam này được hình thành và phát triển từ năm 1958 với hội đồng sáng lập gồm 12 vị: Huyền Quang, Đổng Quán, Bửu Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn…Và với sự cố vấn của kỹ sư địa chất Đặng Đình Đạm, xã trưởng Lê Trọng Cừu, ấp trưởng Bùi Hàn, và cùng với sự hiến đất, bán đất của những người dân sở taị. Tu viện Nguyên Thiều có diện tích 19 héc ta, có ngôi chánh điện, Thích Ca Phật Đài, Quan Âm Đài, tháp thánh tử đạo… Các công trình này cũng rất long đong lận đận trong suốt quá trình xây dựng. Thời nào cũng có những khó khăn ép buộc khiến cho các công trình phải gián đoạn hoặc bị đình chỉ. Hiện tại giữa tu viện vẫn còn một công trình chánh điện xây dang dở, bỏ hoang phế mấy mươi năm nay, bản thân công trình là một chứng nhân lịch sử, một “lời nói thật” không thể nào xóa bỏ được.

Tu Viện Nguyên Thiều rộng rãi, thâm u, cô tịch, nhiều cây xanh bóng mát mặc dù đất đồi sỏi đá khô cứng, thời tiết nắng như nung. Với sức lực và tâm huyết của những vị tòng lâm thạch trụ và bao nhiêu người con Phật đầy năng lực đã biến nơi này thành một chốn già lam u nhã, thanh tịnh… Ngày nay trong khuôn viên tu viện còn có tháp của ngài Huyền Quang – đệ tứ tăng thống, tháp ngài Đồng Thiện – đệ nhất trú trì, tháp ngài Quảng Bửu – đệ nhị trú trì. Các ngôi tháp hiện đại nhưng phong cách kiến trúc cổ điển, rất đẹp, rất trang nghiêm khiến người lễ bái sanh lòng tôn kính. Quanh đấy là những cây hoa sứ cổ thụ tỏa hương thơm ngát, hoa sứ rụng trong sân ngỡ như hoa Mạn Thù Sa, Mạn Đà La từ cõi trời rải cúng dường. Lại thấy hoa sứ rơi cứ ngỡ Ôn Ngài lại về thăm tứ chúng môn đồ…

Chánh điện cũ từ 1958 đến giờ vẫn trầm mặc trong nắng sớm chiều sương, phong cách bày trí cũng giống nhiều ngôi chùa Bắc tông khác, Tượng bổn sư Thích Ca Mâu Ni là điểm nhấn chính, kế là bộ tượng Tây Phương Tam Thế: A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí. Phía sau chánh điện là gian thờ tổ, ngoài chân dung thiền sư Nguyên Thiều ra hiện đang thờ di ảnh của Ông Ngài (danh từ hết sức tôn kính mà dân địa phương gọi ngài đệ tứ tăng thống Thích Huyền Quang) và hòa thượng Quảng Bửu. Những ngày này đang mùa an cư kiết hạ, rất nhiều tu sỹ vân tập về đây để an cư. Thời tiết mùa hè của Bình Định nói riêng miền Trung nói chung nóng như đổ lửa. Thương các thầy một thì thương quý thầy trong hội đồng sáng lập và những vị có công khai sơn phá thạch mười. Thuở ấy còn khó khăn gấp ngàn lần, khai sơn phá thạch bằng sức lực với tay trần, gánh nước sông Côn lên đồi cao sỏi đá, trú nắng lửa mưa dầm ngay trong tháp Bạc trên đồi. Cơm ăn nước uống thì không còn phải nói nữa “ăn như sư ở như phạm” vô cùng thiếu thốn và đạm bạc. Với hùng tâm nhiệt huyết, với lòng mộ đạo kính Phật nên các ngài chẳng ngại gian nan, để rồi hôm nay có ngôi già lam thanh tịnh như thế này. Đất này là đất của Champa, đất này là đất thang mộc của nhà Tây Sơn, đất này thay ngôi đổi chủ biết bao lần rồi… Giờ đây, Nguyên Thiều là ngôi nhà chung của bá tánh, của những người con Phật. Khách hành hương dẫu có ghé qua trong phút giây cũng hưởng được chút an lạc từ làn sóng vô hình. Đất thiêng tại nhân và đất linh sinh người hào kiệt. Tu viện Nguyên Thiều mang tên ngài Nguyên Thiều, vinh dự được ngài Huyền Quang ra công kiến tạo và cuối đời chọn làm nơi tịnh dưỡng. Ngôi chánh điện của Bồ Đề Nguyên Thiều nhỏ bé, đơn sơ như những ngôi chùa quê. Không có hoa văn cầu kỳ, không có rồng phụng tứ linh… ấy vậy mà tầm vóc lại vượt qua biên giới không gian và thời gian. Hình ảnh Bồ Đề Nguyên Thiều in đậm sâu trong tâm tưởng tứ chúng, trong lòng người mến mộ Phật giáo. Đất linh tại người. Bồ Đề Nguyên Thiều lung linh trong tâm tưởng người ngoài lý do đây là ngôi phạm vũ thanh tịnh mà còn nhờ hưởng đức của ngài Huyền Quang. Ngài là bậc tòng lâm thạch trụ của Phật giáo Viêt Nam hiện đại. Ngài là một trong những vị có công kiến lập nên. Ngài về đây tịnh tu sau khi được phóng thích. Ngài là vị trưởng lão tôn kính suốt đời chăm lo giáo dục, hoằng pháp lợi sanh, quan hoài đến tiền đồ dân tộc và quốc gia. Đấy cũng là những điều khiến cho dân chúng kính mến tôn xưng ngài là Ông Ngài.



tu vien nguyen thieu-chanh dientu vien nguyen thieu-thap ngai dong thientu vien nguyen thieu


Bồ Đề Nguyên Thiều nối tiếp truyền thống Yên Tử, Trấn Quốc, Linh Mụ, Thập Tháp…và còn hơn thế nữa. Ngay trong tu viện có trường Phật học với đội ngũ giáo thọ sư toàn tâm toàn ý đào tạo tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Ngày trước tu viện có Học Phật Viện Nguyên Thiều do ngài Huyền Quang làm giám đốc, khóa chiêu sinh đầu tiên vào năm 1961. Sau 1975 thì bị đình chỉ, maĩ đến 1992 mới được khôi phục lại gọi là trường Phật học cơ bản, rồi là trường trung cấp Phật học. Công việc khôi phục lại cũng vô cùng gian nan vất vả, đòi hỏi công sức, năng lực và sự nhẫn nại của quý thầy, đặc biệt là hòa thượng Thích Đồng Thiện. Trong khoảng thời gian ấy, quý thầy, quý giáo thọ sư, quý học tăng… đều vô cùng gian nan vất vả để được dạy và được học, khó mà có thể dùng ngôn ngữ để tả được nỗi gian nan vất vả này. Bồ Đề Nguyên Thiều còn sáng lập hệ thống trường tư thục mang tên Bồ Đề nguyên Thiều, sau năm 1975 thì bị dẹp hết. Bồ Đề Nguyên Thiều tuy sinh sau nhưng quả thật “hậu sanh khả úy”. Chỉ chừng ấy tuổi đời mà đã làm nên kỳ tích lớn đến như thế, hình ảnh in sâu vào tâm khảm tứ chúng, hương thơm bay cao bay xa.

Không biết trên giải đất Việt này có ngôi chùa nào mà từ lúc xây dựng cho đến quá trình hoằng pháp gặp nhiều chướng duyên, trở ngại như Bồ Đề Nguyên Thiều? Khi xây dựng Phật đài thì gặp cơn pháp nạn nên bị đình chỉ, khi xây dựng tháp thánh tử đạo thì chiến sự hai bên vô cùng ác liệt nên lại dừng, phải mất nhiều năm sau thì hai công trình này mới hoàn thành. Rồi công trình xây chánh điện sau này bị cấm vĩnh viễn và chứng tích còn trơ ra đấy với tháng năm. Suốt nhũng năm tháng ngài Huyền Quang tịnh tu ở đây thì Bồ Đề Nguyên Thiều bị cấm bế, ngăn chặn, phong tỏa suốt một thời gian dài…Tất cả những gian nan thử thách không làm nhụt chí quý thầy, phải chăng “gian nan là nợ anh hùng phải vay” – Đào Tấn. Đạo Phật xưa nay cũng trải qua lắm thăng trầm, lúc gặp minh quân mộ đạo thì phát triển, khi vận thay thì gặp phải hôn quân bạo chúa…Bao nhiêu ngôi tụ viên trên thế gian này đã từng lẫy lừng rồi bị phá hủy. Bao nhiêu chốn già lam dựng lên rồi mai một theo thời gian, ấy là lẽ vô thường của thế gian này! Thinh suy là lẽ, dựng lập và hủy hoại cũng là lẽ, tất cả không ngoài nhân duyên, duyên tụ thì thành duyên tán thì tan. Bồ Đề Nguyên Thiều cũng thế, nhờ nhân duyên mà tựu thành. Nhờ duyên mà chiêu cảm được các bậc long tượng, tòng lâm thạch trụ hội tụ. Nhờ duyên mà mở ra đại hội khoáng đại bất thường. Nhờ duyên mà Bồ Đề Nguyên Thiều đi vào Việt Nam Phật sử như một địa chỉ linh thiêng, một sự kiện vinh quang, một chứng nhân sống động giữa đời.

Tiểu Lục Thần Phong
Vijaya, 0625

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2020(Xem: 6244)
Chùa Thanh Xuân thuộc địa danh làng Thanh Xuân Xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nằm dọc duyên hải miền trung bờ nam biển Cửa Việt; cuối nguồn hai nhánh sông Thạch Hãn, Vĩnh Định đổ ra biển. Theo dân làng kể lại, đời tổ tiên ông bà xuất phát ra lập làng từ đời triều Nguyễn ở Huế, hai họ Phan, họ Trần theo dòng Vĩnh Định ra Quảng Trị xuôi nguồn về đây. Lập tên làng Thanh Xuân, trong đó Xuân là lấy lại từ nguồn gốc thành Phú Xuân, cũng như các làng Xuân Thành, Dương Xuân vậy.
15/09/2020(Xem: 18619)
Chùa tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa quay hướng Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu. Chùa được Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung dựng vào cuối thế kỷ 17 tại ngọn đồi thấp Hoàng Long Sơn, có tên thiền thất Ấn Tôn. Năm Nhâm Thìn (1712), ngài Thiệt Diệu Liễu Quán, quê ở Phú Yên là đệ tử đắc pháp của Sơ tổ Minh Hoằng Tử Dung, được ngài truyền tâm ấn, trở thành đệ nhị Tổ. Ngài Thiệt Diệu Liễu Quán đã phát triển dòng thiền Lâm Tế cho đến ngày nay.
13/09/2020(Xem: 20369)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
11/09/2020(Xem: 6399)
Chùa Hà Trung tọa lạc ở làng Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa cách trung tâm thành phố Huế khoảng 50 km. Chùa được lập vào thời Hậu Lê, gắn với hành trạng Thiền sư Nguyên Thiều. Thiền sư từ Quảng Đông, Trung Quốc sang Quy Nhơn lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập chùa Quốc Ân. Năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu cử ngài đến trụ trì chùa Hà Trung. Ngôi chùa ngày nay được trùng tu năm 1995, đại trùng tu năm 2009. Trụ trì chùa là Hòa thượng Thích Chơn Tế (trụ trì chùa Tường Vân, Huế kiêm nhiệm), Tri sự là Đại đức Thích Quảng Huệ.
11/09/2020(Xem: 6991)
Thông Điệp Của Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu (Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN thân gởi Chư Tôn Đức Tăng Ni và Đồng Bào Phật tử Hải Ngoại)
09/09/2020(Xem: 6825)
Chùa Diệu Đế tọa lạc bên bờ sông Hộ Thành (sông Gia Hội) số 110 Bạch Đằng, phường Phú Cát, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa có diện tích hơn 10.000m2. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi. Đây là nơi Hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, con vua Minh Mạng ra đời vào ngày 16/6/1807. Năm 1841, Hoàng tử lên ngôi vua ở kinh thành Huế, lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
07/09/2020(Xem: 12619)
Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Long (trên đất làng Thụy Lôi xưa, gần xóm Lịch Đợi), đường Báo Quốc, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong (du tăng người Quảng Đông, Trung Quốc) dựng vào cuối thế kỷ 17, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần, nơi ngài Liễu Quán đến học đạo và ở lại trong 11 năm. Tổ Giác Phong viên tịch năm 1714. Đến năm 1747, Hiếu Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu chùa và ban cho chùa tấm biển chữ Hán “Sắc Tứ Báo Quốc Tự”, bên trái có ghi hàng chữ Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề, bên phải có dòng lạc khoản Cảnh Hưng bát niên hạ ngũ nguyệt cát nhật. Ngoài ra còn có dấu chạm khắc hình bốn cái ấn, một cái triện tròn khắc chữ Quốc Chúa Nam Hà. Trụ trì chùa thời gian này là Thiền sư Tế Nhơn, một trong những cao đệ đắc pháp của Tổ Liễu Quán. Kế thế trụ trì là các ngài Tế Ân, Trí Hải, Đại Trí …
05/09/2020(Xem: 14064)
Chùa Giác Lâm tọa lạc tại số 02 kiệt 56 đường Duy Tân, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nguyên là một thảo am do Tổ Giác Hải, người làng Trung Kiên, tỉnh Quảng Trị khai sáng vào ngày 16 tháng 3 năm Đinh Dậu (1897) trên một triền đồi, dưới chân núi Ngự Bình, đặt tên Duy Tôn Tự để truyền bá chánh pháp, đem đạo Phật phổ hóa vào những nơi xa xôi, hẻo lánh. Tổ có thế danh là Nguyễn Văn Cẩm, sinh trưởng trong một gia đình tín tâm với đạo Phật. Ngài là đệ tử của Tổ Tâm Tịnh, khai sáng Tổ đình Tây Thiên, Huế. Ngài có pháp danh là Trừng Nhã, tự Chí Thanh, hiệu Giác Hải.
30/08/2020(Xem: 8433)
Chùa Thiên Mụ thường gọi là chùa Linh Mụ, tọa lạc trên đồi Hà Khê, đường Nguyễn Phúc Nguyên, xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nằm ở bờ bắc sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế 5km. Sách Ô Châu cận lụccủa Tiến sĩ Dương Văn An cho biết chùa Thiên Mụ ở phía nam xã Giang Đạm, huyện Kim Trà, nóc ở đỉnh núi, chân gối dòng sông. Chùa được chúa Tiên - Nguyễn Hoàng cho xây dựng vào năm 1601. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa khang trang. Năm 1695, Thiền sư Thạch Liêm, người Trung Quốc, được chúa Nguyễn mời làm trụ trì chùa. Từ chùa Thiên Mụ và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài đã truyền bá Thiền phái Tào Động ở đàng Trong.Hòa thượng Thạch Liêm đã tả cảnh chùa Thiên Mụ: “Đêm 15 trời mưa, ra đến chùa Thiên Mụ. Chùa này tức Vương phủ ngày xưa (?) chung quanh có trồng nhiều cây cổ thụ, day mặt ra bờ sông; trước chùa ngư phủ, tiều phu tấp nập sớm chiều qua lại. Trong chùa cột kèo chạm trổ rất tinh xảo …” (1)
29/08/2020(Xem: 7206)
Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang thường được gọi là Chùa Sắc Tứ,Tịnh Quang Tự, Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang, tọa lạc ở thôn Ái Tử, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chùa là một trong những ngôi tổ đình được xây dựng sớm và có ảnh hưởng lớn Phật giáo xứ Đàng Trong. Chùa ban đầu có tên là Am Tịnh Độ. Từ điển Di tích Văn hóa Việt Nam(1) cho biết chùa do Hòa thượng Tu Pháp, tự Chí Khả khai sáng vào năm 1739 đời Vua Lê Ý Tông (năm thứ hai đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát) với tên là Tịnh Nghiệp Tự. Đến đời Vua Gia Long, vua ban tên gọi là Tịnh Quang Tự. Chùa được trùng tu năm Minh Mạng thứ 21 (1941).