Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Nhịp Cầu Thế Hệ Của Đạo Phật Ngày Nay

22/02/202111:25(Xem: 1868)
Nhịp Cầu Thế Hệ Của Đạo Phật Ngày Nay



Duc The Ton 1


NHỊP CẦU THẾ HỆ
CỦA ĐẠO PHẬT NGÀY NAY




Với lịch sử 2500 năm, đạo Phật đã trải qua hàng trăm thế hệ nhân sinh mà mỗi thế hệ đều có dấu ấn của sự trải nghiệm riêng qua từng chặng đường lịch sử, xã hội, văn hóa và dân tộc.

Hiện tại, lớp người trẻ trên thế giới này được mệnh danh là “Thế hệ Z” (Gen Z).

Thế hệ Z là giới  trẻ được sinh từ năm 1996 trở đi. Đây là thế hệ đầu tiên có cơ hội tiếp xúc với công nghệ điện tử ngay từ nhỏ. Thế giới khổng lổ và thay đổi từng giây nhanh như chong chóng của phương tiện truyền thông điện tử. Từ Facebook, Youtube, Tweeter, Instagram…  đến mạng internet rộng lớn, thế hệ Z năng động, độc lập và tìm kiếm thông tin tính theo đơn vị phút trong khi thế hệ phụ huynh, cha ông phải tính theo ngày, theo tháng. Thế hệ Z thì đang đi với tốc độ máy bay mà thế hệ cha anh và ông bà thì vẫn còn đi với tốc độ xe hơi, xe má,y xe đạp hay thậm chí là đi bộ. Bởi vậy khoảng cách giữa các thế hệ càng ngày càng xa. Theo ước tính thì trong vòng khoảng 10 năm nữa (2030), thế hệ Z sẽ làm chủ thế giới về mọi mặt: Số lượng, chất lượng, lối sống và nếp nghĩ…

Chúng ta, thế hệ cha ông, đã có sự chuẩn bị gì chưa để trao “cung kiếm” trong cuộc sống đời thường hay “y bát” trong biểu tượng tâm linh đời sống đạo cho thế hệ Z?

Mối ưu tư canh cánh của thế hệ đàn anh đang lần lượt ra đi là sự kế thừa truyền thống Việt Nam của thế hệ Z. Thế hệ tuổi già có khuynh hướng sống về quá khứ: “Quá khứ oai hùng, quá khứ vàng son, quá khứ cao quý…” thường được nhắc đến trong cảnh đời chiều trà dư tửu hậu. Nhưng ngôn ngữ và cảm xúc thường bay đi mơ hồ như gió thoảng bụi tre vì thực tế chẳng có gì đọng lại để nắm bắt hay làm điểm tựa.

Sáng nay, thứ Bảy 20-2-2021, tôi được theo dõi một cuộc Hội luận Trực tuyến  của các thành viên đạo Phật trên mạng lưới online.


https://www.facebook.com/kientrungphan/videos/3880244185367293



blank



 Trách nhiệm “đăng cai” (host) là Cư sĩ Phan Trung Kiên ở San Diego. Dẫn chương trình là Cư sĩ Trần Trung Đạo ở Boston. Thuyết minh là cư sĩ Nguyễn Hồng Dũng ở San Jose. Tham gia ý kiến là Cư sĩ Thị Thiện và Cư sĩ Phù Vân Nguyên (cùng thiện phu nhân?) ở châu Âu. Nhân vật chính của buổi hội luận là Hoà thượng Thích Như Điển, pháp chủ chùa Viên Giác ở Đức Quốc. Các phần phát biểu đều tập trung nói lên tinh thần vinh danh sự thành tựu về quá trình tu trì, nghiên cứu, học tập, sáng tác và hoằng pháp của Thầy trong suốt mấy thập niên qua cho Phật giáo Việt Nam và phát huy văn hóa dân tộc tại Đức Quốc và Hải ngoại. Cũng theo các diễn giả và phát biểu của Thầy thì với khoảng 70 tác phẩm đủ các thể loại văn chương, nghệ thuật, biên khảo và triết học Phật giáo xuất hiện dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau như Việt, Nhật, Anh, Pháp, Đức đã nâng tầm ảnh hưởng sâu rộng của Thầy trong quá trình giới thiệu Phật giáo và văn hóa Việt Nam với cộng đồng thế giới. 

Chương trình hội luận còn mở rộng thêm về những đề tài Phật giáo mà tất cả mọi người đang quan tâm. Đó là tình hình hiện tại và tương lai của Phật giáo Việt Nam.

Trong nước, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ trong Lá Thư Ngày Tết 2021 gởi đến Chư tôn Trưởng Lão và Huynh đệ Bốn chúng. Khi nói đền hiện trạng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại, Thầy nhấn mạnh: “Phật giáo Việt Nam cũng đã và đang chịu những thử thách lớn của thời đại, không chỉ xuất hiện những hình thái sinh hoạt biến đổi theo cơ cấu tổ chức của một xã hội tiêu thụ, mà chính trong tư duy cũng biểu hiện những giá trị lệnh hướng, định hướng theo thị hiếu quần chúng, thỏa mãn nhu cầu tri thức thấp kém, những giá trị thế tục phù phiếm.”

Và Thầy Tuệ Sỹ đã quyết liệt phê phán hiện tượng “nói Phật còn hơn Phật nói (!)”. Đó là:Khi mà những người học Phật bị mê hoặc bởi các giá trị thế tục, diễn giải giáo nghĩa theo kiến thức nhặt lượm từ những thành tựu vụn vặt trong xã hội tiêu thụ, chánh kiến mờ nhạt dần, và Chánh pháp được thay thế bằng tượng pháp; vàng thật được thay thế bằng vàng giả…”

Chân lý chỉ có một. Bởi Phật tánh là thể tánh, không có phiên bản hay phỏng thể, nên Thầy Tuệ Sỹ cẩn trọng lý giải rằng:

“Khi vàng giả xuất hiện trong thị trường tiêu thụ, vàng thật biến mất. Đây là quy luật cần được hiểu theo ý nghĩa kinh tế học. Do bản thân vàng giả không hàm chứa giá trị nội tại, người tiêu thụ dễ dàng phung phí. Từ đó, tạo ra ảo tưởng về một xã hội phồn vinh, mà nhất định nó sẽ dẫn đến sự sụp đổ.”


blank



Quy luật khách quan và tất yếu, như Thầy Tuệ Sỹ đã mô tả và bình luận về “ấn tượng hư cấu” sự hưng thịnh Chánh pháp dựa trên giả tướng hình tướng thì rốt cuộc, sau những màu mè hào nhoáng đang ẩn chứa một sự suy tàn không thể nào tránh khỏi:

 “Cũng vậy, những giá trị phù phiếm của tượng pháp vẽ ra ấn tượng hư cấu về một thời kỳ hưng thịnh của Chánh pháp, đồng thời cũng hàm chứa tín hiệu cho sự suy tàn tất yếu.”

Như một thông điệp mùa Xuân, quang minh mà trầm thống về sự thịnh suy của Đạo và Đời, tất cả đều mong manh và giả tạm “thịnh suy như lộ thảo đầu phô”, Chân Nguyên sẽ hiển lộ khi nhân thuận và duyên lành cùng hội đủ: “…như mặt trời giữa hư không, sau những lúc bị mây mù, khói bụi che khuất, rồi cũng xuất hiện tỏa sáng thế gian. Cũng vậy, mặt trời trí tuệ, vốn là Giác tính uyên nguyên của mọi loài chúng sinh, trong sinh tử trường kỳ bị che lấp bởi khách trần phiền não, rồi cũng sẽ bừng sáng khi nhân duyên hội đủ.”

Dẫu trong bất cứ hoàn cảnh của vọng nghiệp và chướng duyên nào tác tạo, đạo Phật không có điểm dừng của tuyệt vọng. 

Như trong cuộc Hội luận sáng hôm nay, Thầy Thích Như Điển cũng như các diễn giả cùng phân tích và thảo luận rằng, khi tham khảo và phân tích những nhận định của Thầy Tuệ Sỹ trong Thư Chúc Tết, đường bay của Phật giáo là phương trời cao rộng của con chim đại bàng có đôi cánh: Cánh xuất gia và cánh tại gia. Nên dẫu bay tới phương trời nào và trong hoàn cảnh ra sao cũng không lo cánh mềm, lạc hướng. 

Điều quan tâm gần nhất nhưng chưa có một phương hướng sáng sủa, rõ ràng trước mắt vẫn là sự phát triển của thế hệ Z và tương lai đạo Phật Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Âu Mỹ sau Thế Chiến thứ nhất (1914-1918) đã có một Thế Hệ Lạc Hướng (Lost Generation) vì hai thế hệ Cha Ông và Con Cháu đã bị lạc nhau vì chiến tranh, phân hóa và tầm nhìn lệch hướng. Những nhà tâm lý và xã hội thời danh đã quy nguyên nhân chính cho sự lạc hướng đó vì ba lối: lối nhìn, lối nghĩ và lối sống của hai thế hệ đàn anh và đàn em quá khác nhau nhưng cuộc sống thiếu những Chiếc Cầu Thế Hệ để điều hòa và hóa giải bắc ngang hai đầu qua hai bến bờ khác biệt. 

Khi cuộc hội luận sắp kết thúc Thầy Như Điển đã tình cờ hé cho biết là Thầy Tuệ Sỹ sinh năm 1945, Thầy Như Điển sinh năm 1949. Tôi nghĩ đến hình ảnh ví von con chim đại bàng Phật giáo có đôi cánh, bên xuất gia và bên tại gia nhưng cùng nhìn về một hướng. Tôi sinh năm 1946 nên nghĩ ngay đến các anh chị em còn trẻ đang có mặt ở trên diễn đàn như Trần Trung Đạo, Nguyễn Hồng Dũng, Phan Trung Kiên… và hệ thống Gia Đình Phật Tử Việt Nam rất có khả năng là những chiếc cầu thế hệ bắc ngang qua bờ U-70, U-80, U-90… của thế hệ chúng tôi đến bờ thế hệ Z bên kia. 

Năm mới, bánh tét, bánh chưng vẫn còn làm tôi nhớ là sắm Tết, chuẩn bị cho Tết vui hơn là ăn Tết. Muốn đến thì phải đi; muốn thấy thì phải nhìn và muốn hiểu thì phải đầu tư suy nghĩ. Hy vọng, cuộc hội luận hôm nay là dấu hiệu khởi hành cho hướng đi, lối nhìn và cách suy nghĩ của những người anh, người chị đang làm thế hệ bắc cầu trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.



Sacramento Mồng 8 Tết Tân Sửu 2021

Trần Kiêm Đoàn

   





 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/201312:50(Xem: 22935)
Ðạo Phật truyền vào Việt Nam ta đã trên 15 thế kỷ cho nên phần đông dân chúng nước ta là tín đồ Ðạo Phật. Dân chúng thường nói "Ðạo Phật là đạo của ông bà", hay "Nhà nào có đốt hương, đều là tín đồ đạo Phật cả...".
09/12/201222:52(Xem: 7892)
Người ta thường nói rằng tác giả 14 điều Phật dạy là Hòa thượng Kim Cang Tử. Thực tế không phải như vậy. Hòa thượng Kim Cang Tử chỉ có công phiên dịch 14 điều này ra từ chữ Hán. Vào những năm 1998-1999, ta mới thấy 14 câu này được lưu hành. Gần đây, chúng tôi có đọc được bản nguyên tác chữ Hán có ghi rõ xuất xứ là chùa Thiếu Lâm ở Trung Quốc tặng cho các phái đoàn Việt Nam.
12/10/201100:59(Xem: 2672)
ó bốn cách nghiệp sẽ chín trong những kiếp tương lai: Nghiệp Chín Hoàn Toàn: là loại tái sanh mà tâm thức ta sẽ nhận lãnh khi nó tách rời thân thể ta trong giờ phút lâm chung. Hành Động Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những lời nói, ý nghĩ và hành động ta tạo ra trong bất cứ kiếp sống nào là do những thói quen trong quá khứ. Kinh Nghiệm Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những gì người khác hay các chúng sanh khác đối xử với ta, hay những gì xảy ra cho ta. Nghiệp Quả Qua Môi Trường (Y báo): thế giới xung quanh ta ra sao: ô nhiễm, tươi đẹp, bị động đất v.v..., đều do cộng nghiệp của tất cả chúng sanh sống trong môi trường đó.
25/09/201006:17(Xem: 3560)
Trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ), Đức Phật dạy rằng: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sanh ra...Nghiệp là gì? Theo từ nguyên, nghiệp, tiếng Sanskrit gọi là karma, Pàli gọi là kamma, có nghĩa là hành động cótác ý (volitional action). Nói cách khác, nghiệp luôn luôn được bắt nguồn từ những tạo tác của tâm (ý) thông qua những hoạt động của thân, miệng và ý, gọi chung là tam nghiệp. Do đó, một hành động (tạo tác) nếu không phát sinh từ tâm thì không thể gọi là nghiệp, mà hành động ấy chỉ được gọi là hành động hay hành động duy tác (kriyà). Và như vậy, định nghĩa của nghiệp là: hành động có tác ý, hay hành động được phát sinh từ tâm.
28/03/201309:02(Xem: 3792)
Phật dạy chúng sanh trong sanh tử vô minh từ vô thủy kiếp đến nay, gốc từ vô minh, do vô minh nên thấy biết và tạo nghiệp sai lầm. Biểu hiện của thấy biết sai lầm thì rất nhiều, trong đó sự thiếu sáng suốt và lòng tự mãn là biểu hiện nổi bật nhất. Đây cũng là căn bệnh trầm kha của đa phần những con người bảo thủ, sôi nổi, nhưng lại nhìn chưa xa, trông chưa rộng. Từ đó, cuộc sống của họ khung lại trong cái vị kỷ nhỏ hẹp, phiêu bồng trôi giạt theo từng bước vong thân.
08/11/201222:09(Xem: 5612)
Cách đây ít lâu - chính xác là ngày 14 tháng 9 - một bài viết được đăng lên trang Phật giáo Thư viện Hoa sen có nhan đề “Kinh Vu Lan Bồn thực hay giả?”của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Ngay hôm sau đó, bài viết này cũng xuất hiện trên trang Văn hóa Phật giáo và gợi lên một loạt những tranh biện kéo dài đến hơn một tháng sau. Ý kiến cuối cùng được đăng bên dưới bài viết này là vào ngày 20 tháng 10.
15/12/201720:49(Xem: 49957)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
31/12/201223:39(Xem: 2776)
Theo nghĩa hẹp, nhẫn nhục là nhịn chịu mọi nhục nhã và mọi khó khăn trở ngại, và vượt qua chúng một cách bình ổn. Nhà Phật gọi những chướng duyên làm ngăn trơ ûsự tiến tu là ma chướng, gồm ngoại ma (trở ngại do người khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài gây ra)và nội ma (trở ngại từ chính thân tâm mình)
08/04/201313:55(Xem: 16627)
Nhị khóa: Hai thời khóa tụng; Hiệp giải: nhập chung để giải. Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. Nội dung phân ra từ mục: Từ quyển thứ nhứt đến quyển thứ bảy để giải nghĩa, nên gọi là "Nhị Khóa Hiệp giải"
02/04/201314:25(Xem: 3321)
Nhìn lại thân thể của mình mỗi ngày là một trong những phương pháp thực tập rất căn bản của thiền học. Tiếp xúc với thân thể của ta bằng con mắt thiền quán, ta thấy sự có mặt của thân thể đối với ta là sự có mặt của một thực tại mầu nhiệm.