Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Quan Niệm Phật Giáo Về Chính Quyền

27/03/201321:09(Xem: 3559)
Quan Niệm Phật Giáo Về Chính Quyền

Quan Niệm Phật Giáo Về Chính Quyền
Gunaseela Vitanage - Đăng Nguyênlược dịch

GMHK-01.04Phật giáo, giống như những tôn giáo khác, nhấn mạnh vào những giá trị tinh thần hơn là vào những giá trị vật chất; vào việc buông xả những tài vật của thế gian hơn là chấp chặt vào chúng; và vào khía cạnh tâm linh của đời sống hơn là vào khía cạnh trần tục của nó. Tuy nhiên, Phật giáo không hoàn toàn không quan tâm đến phương diện đời sống vật chất và thế tục. Trong thực tế, có một bản kinh Phật có tên là Giáo thọ Thi-ca-la-việt(Singālovāda Sutta), giảng giải về những luật tắc dành cho đời sống của người tại gia. Bản kinh đặt ra những bổn phận của một người tại gia đối với người khác cũng như những phương pháp rèn luyện bản thân để trở thành một công dân tốt và hữu ích. Những kinh sách Phật giáo cũng đặt ra một số quy chuẩn đạo đức cho người lãnh đạo cũng như dân chúng. Chúng cũng đề cập đến những hình thức nhà nước thịnh hành vào thời bấy giờ; và thật ý nghĩa, cho thấy rằng Đức Phật thể hiện sự ủng hộ hình thức nhà nước dân chủ.

Chúng ta cần phải nhớ rằng Đức Phật sinh vào trong một xã hội, mà nói một cách tương đối, là tiến bộ về phương diện chính trị, và xã hội mà qua các thời đại đã phát triển một số tư tưởng lành mạnh về tổ chức nhà nước. Trong luật Manu, những người Hindu đã có những luật lệ để hướng dẫn họ trong những bổn phận dân sự của họ. Manu, giống như Moses của Thánh kinh Thiên Chúa giáo, là người làm luật huyền bí của Ấn Độ. Những luật này thảo luận không chỉ về quyền của người cai trị, mà cũng về những bổn phận của họ đối với thần dân của họ. Chúng cũng thảo luận về những nghĩa vụ của dân chúng đối với người cai trị và cũng như những quyền của họ. Do đó, cần có một vài ý kiến về quan điểm của người Hindu về chính quyền, nếu chúng ta muốn đánh giá đúng những quan điểm của Phật giáo về vấn đề này.

Luật matsya nyaya

Quan điểm của người Hindu về chính quyền được đặt cơ sở trên một lý thuyết được gọi là matsya nyaya, mà nó có nghĩa đen là “luật con cá”.

Thuật ngữ matsya nyayacó thể dịch là “luật của kẻ mạnh đè kẻ yếu/ luật rừng”. - “Tại sao cần nên có chính quyền ở cuộc đời này?” “Tại sao cần nên có một số người lãnh đạo những người khác?” “Tại sao cần nên có những luật lệ mà người ta buộc phải tuân theo dựa trên hình phạt?” Những nhà tư tưởng Hindu đã trả lời những câu hỏi này bằng việc xác định một luật tự nhiên căn bản: “Matsya nyaya”, luật mà qua đó một con cá nhỏ trở thành mồi của một con cá lớn.

Chính quyền, những người cai trị và luật lệ là cần thiết để ngăn chặn luật tự nhiên này có tác dụng ở trong xã hội loài người. Loại bỏ chính quyền, loại bỏ những người cai trị và loại bỏ luật lệ, xã hội loài người sẽ thoái hóa trong một tình trạng hỗn loạn mà trong đó kẻ mạnh hơn sẽ hủy diệt kẻ yếu hơn. Luật Manunói, “Nếu không có quy định và luật lệ, kẻ mạnh sẽ nuốt chửng kẻ yếu giống như những con cá.” Thánh điển Mahabharatanói, “Nếu không có người cai trị để thi hành sự trừng phạt ở trên trái đất, kẻ mạnh sẽ nuốt chửng kẻ yếu giống như những con cá ở trong nước. Điều này có liên quan đến sự băng hoại trong thời đại của người xưa, do vì vô chính phủ nên họ ăn nuốt lẫn nhau như con cá mạnh bắt con cá yếu làm mồi”.

Điều này cho thấy rằng lý thuyết về chính quyền của người Hindu được đặt cơ sở nơi niềm tin rằng bản chất của con người vốn đồi bại bẩm sinh. Nếu không có một chính quyền mạnh để kiểm soát con người, kẻ mạnh hơn sẽ hủy diệt kẻ yếu hơn, giống như con cá lớn hủy diệt con cá nhỏ ở ngoài biển. Chính quyền, người cai trị và luật lệ trở nên cần thiết để ngăn chặn luật “matsya nyaya” này có tác dụng ở trong xã hội loài người.

Học thuyết về chính quyền này một cách tự nhiên đưa đến hệ quả rằng, cần phải có một chính quyền kiểm soát, và rằng chính quyền phải được trao cho quyền trừng phạt hay còn gọi là danda.

Quốc vương Hindu như vậy buộc phải chọn chính sách bốn bậc (caturopaya) trong việc cai trị dân chúng: sama, dana, danda, và bheda. Sama có nghĩa là hòa bình: người trị vì tài trí phải duy trì hòa bình cho thần dân. Dana có nghĩa là từ thiện (bố thí): người trị vì tài trí phải thực hiện từ thiện. Danda có nghĩa là trừng phạt: người trị vì tài trí trừng phạt tội phạm theo các mức độ phạm tội. Bheda có nghĩa là tạo nên sự chia rẽ khi cần thiết: người trị vì tài trí phải tạo ra những bất đồng trong dân chúng để vị trí của ông ta được bảo đảm. Nói cách khác, ông ta phải chọn chính sách “đường phân giới và sự cai trị”.

Tình hữu nghị

Quan điểm của Đức Phật hoàn toàn khác với quan điểm của người Hindu, rằng matsya nyayalà luật cơ bản của tự nhiên. Ngài rõ ràng nhìn thấy sự đấu tranh cho việc sinh tồn mà nó quá hiển nhiên ở trong đời sống, nhưng điều này Ngài quy cho sự vô minh của con người hơn là bản tính xấu ác bẩm sinh. Đức Thế Tôn cũng thấy rằng con người luôn sẵn lòng sống trong hòa bình và quan hệ thân thiện với đồng loại của mình, để hợp tác với đồng loại của mình, và thậm chí hy sinh bản thân vì lợi ích của đồng loại, với điều kiện là họ được hướng dẫn đúng đắn. Theo cái nhìn của Đức Phật, luật lệ áp đặt từ quyền lực bên trên hay bên ngoài là không đủ để kiểm soát con người, mà cần thiết phải có sự hiểu biết tự thân và kỷ luật bên trong.

Luật kẻ mạnh hiếp kẻ yếu (The law of the jungle/ luật rừng) rõ ràng không phải là phổ quát ngay cả ở trong rừng. Có tình hữu nghị và sự hợp tác giữa những con thú ở trong rừng - như Đức Phật đã chỉ ra trong nhiều câu chuyện Jataka.

Do vì có sự khác nhau cơ bản nơi cách nhìn giữa Ấn giáo và Phật giáo, chúng ta thấy rằng Phật giáo ít nhấn mạnh vào quyền lực (bala) hay trừng phạt (danda). Ví dụ, chúng ta thấy rằng thay vì là chính sách bốn bậc (caturopaya) sama, dana, danda, bheda của người Hindu, kinh sách Phật giáo nói về catu-sangaha-vatthu, hay bốn cách thức hành xử. Đó là, bố thí (dana), ái ngữ (priya-vacana), tiết kiệm (artha cariya), và bình đẳng (samanatmata).

Như vậy, theo Phật giáo, vị vua đức hạnh nên thực hành bố thí (từ thiện). Bố thí ở đây không chỉ đem tài vật ban cho người nghèo mà cũng ban phát bổng lộc cho những người phục vụ nhà vua. Vị vua đức hạnh cũng phải thực hành ái ngữ, nói năng đúng đắn, tử tế. Ông ta không được sử dụng ngôn từ cay nghiệt và độc ác đối với người khác với bất kỳ lý do gì.

Nhà vua phải rèn luyện tính tiết kiệm. Từ artha cariyacó nghĩa là tinh thần phục vụ cũng như sự tiết kiệm và sống một đời sống giản dị. Vị vua hay người trị vì tốt cũng thực hành sự bình đẳng. Tức là, trong khi duy trì vị trí tối cao của người trị vì, ông ta không xem bản thân là kẻ tối thượng và dân chúng là kẻ hèn kém, và ông ta cũng học cách thực thi sự công bằng đối với nhân dân của mình mà không sợ hãi hay là như ban phát đặc ân. Một vị minh quân phải học đối xử bình đẳng với mọi người.

Mười phẩm hạnh dành cho vua(Dasa Raja Dharma/ Thập vương pháp)

Trong Thập vương pháp hay mười phẩm hạnh dành cho một vị vua, quan điểm Phật giáo về vương quyền được nói thêm. Mười phẩm hạnh của một vị vua bao gồm: bố thí (dana), giữ giới (sila), rộng lượng (pariccaga), trung thực (ajjavan), hòa nhã (majjavan), kiềm chế (tapam), không sân hận (akkodho), không bạo lực (avihimsa), nhẫn nhục (khanti), và từ ái (avirodhata).

Đức Phật cũng nhấn mạnh vào sự thật rằng cái xấu và cái tốt của dân chúng tùy thuộc vào sự hành xử của người trị vì họ; và vì cái tốt của dân chúng, Ngài đặt ra mười phẩm hạnh này để những người trị vì dân chúng thực hành. Trong Tăng chi bộĐức Phật nói rằng, “Này các Tỳ-kheo, khi một người trị vì đất nước tốt và đúng đắn, những quan thượng thư của họ sẽ trở nên tốt và đúng đắn. Khi các quan thượng thư trở nên tốt và đúng đắn, các quan lại sẽ trở nên tốt và đúng đắn. Khi các quan lại trở nên tốt và đúng đắn, các binh lính sẽ trở nên tốt và đúng đắn. Và, khi các binh lính trở nên tốt và đúng đắn, dân chúng sẽ trở nên tốt và đúng đắn”.

Mặc dù điều này đối với chúng ta là có phần đơn giản, tuy nhiên cần phải xem xét vấn đề này từ nơi xã hội đương thời, nơi hệ thống Bà-la-môn đã phân chia xã hội thành những đẳng cấp bất di bất dịch, và có một sự chấp thuận tôn giáo về sự phân chia đó...

Bình đẳng

Sự bác bỏ đẳng cấp và phân chia giai tầng của Đức Phật không chỉ là lý thuyết. Ngài thâu nhận thành viên của tất cả các đẳng cấp vào trong Tăng đoàn. Upali, trước đó là một thợ cắt tóc, Sunita trước đó là một người ngoài lề xã hội (ngoài đẳng cấp), đã nhận được sự kính trọng ở trong Tăng đoàn.

Đức Phật nói rằng: “Này các Tỳ-kheo, giống như tất cả những con sông lớn, đó là sông Hằng, sông Jammu, sông Aciravati, sông Sarabhu, sông Mahi, khi ra đến đại dương đều mất đi tên gọi ban đầu và đặc tính riêng của chúng và được đổ dồn vào trong đại dương. Cũng như vậy, Kshatriya, Brahmana, Vaisya và Sudra sau khi tham gia vào Tăng đoàn, đều mất đi những đặc tính trước đây của mình và trở thành thành viên của Tăng đoàn”.

Những nhà chiêm bái Trung Hoa như Pháp Hiền, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh cho chúng ta biết rằng những khái niệm dân chủ và bình đẳng này vẫn được cổ vũ ở Ấn Độ nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật diệt độ.

Dân chủ

Sau khi đã thảo luận về quan điểm vương quyền trong Phật giáo, chúng ta phải tự hỏi rằng có phải Phật giáo xem nền quân chủ như là mô thức chính quyền lý tưởng? Vào thời Đức Phật, có một số vương quốc lớn ở Ấn Độ, chẳng hạn như Magadha và Kosala. Cũng có một số nhà nước dân chủ thời bấy giờ. Đức Phật rõ ràng đã bày tỏ sự ủng hộ hình thức nhà nước dân chủ và cũng bày tỏ quan điểm rằng hình thức nhà nước này có lợi cho sự ổn định xã hội.

Đề cập đến những chuẩn bị mà vua Ajatasattu thực hiện để tấn công vào một trong những xứ sở dân chủ - những xứ sở của người Vajjī - Đức Phật nói:

“Này Ananda, khi nào dân Vajjī thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjī sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm…. Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjī tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ananda dân Vajjī sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm… Này Ananda khi nào dân Vajjī, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjī như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjī sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm… Này Ananda, khi nào dân Vajjī tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjī và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjī sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm… Này Ananda, khi nào Vajjī không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjī phải sống với mình thời, này Ananda, dân Vajjī sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm…”

Phật giáo đã có công rất lớn trong việc phát triển những hình thức nhà nước dân chủ ở Ấn Độ cổ đại. Đây là những gì mà M. Zetland, một cựu quan chức của Ấn Độ, nói ở trong phần giới thiệu cuốn sách Legacy of India:

“Thực vậy, chúng ta biết rằng khoa học chính trị - tiếng Sanskrit là Arthasastra - là một đề tài được ưa chuộng đối với các học giả Ấn Độ một vài thế kỷ trước kỷ nguyên Thiên Chúa giáo. Khế ước xã hội như là nguồn gốc của vương quyền được thảo luận trong tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ được cho là của Kautilya, một vị thượng thư của hoàng đế Chandragupta, khoảng 300 năm trước Tây lịch. Và dường như rằng dân chúng - những người thỏa thuận với nhau chọn một vị vua đã làm như vậy với mục đích rằng cần nên có quyền lực bên ngoài để có thể bảo đảm những luật lệ và quy định của những đoàn thể khác nhau - đã được tôn trọng… Đáng chú ý là khuynh hướng về chính phủ tự trị bằng những hình thức hoạt động đoàn thể khác nhau này đã nhận lấy sự thúc đẩy từ việc bác bỏ thẩm quyền của tầng lớp Tăng lữ và xa hơn bởi học thuyết về bình đẳng của Phật giáo, như trường hợp từ bỏ đẳng cấp. Quả thực, chúng ta cần phải lật giở kinh sách Phật giáo để tìm sự giải thích về kiểu thức những hội đoàn tự quản tiêu biểu đầu tiên được hướng dẫn như thế nào. Và nó có thể gây ngạc nhiên đối với nhiều người khi nhận thấy rằng các buổi hội họp của những Phật tử ở Ấn Độ hơn 2.000 năm trước đã hình thành nên những nguyên tắc căn bản mà việc họp Quốc hội của chính chúng ta ngày nay đang thực hành…”. n

(Nguồn: Bodhi Leaf No. 11, Kandy, Buddhist Publication Society, 2010, tr.137 / Nguyệt san Giác Ngộ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 4487)
Quý vị biết không, gần đây có nhiều người đến khuyên tôi thế nầy: “Thầy ơi, lúc nầy Thầy cứ tu đi thì mọi việc sẽ tốt đẹp, Thầy đừng làm chi hết, bởi vì Thầy có làm chi thì sẽ đụng tới...
08/04/2013(Xem: 18596)
Ðạo Phật truyền vào Việt Nam ta đã trên 15 thế kỷ cho nên phần đông dân chúng nước ta là tín đồ Ðạo Phật. Dân chúng thường nói "Ðạo Phật là đạo của ông bà"...
05/04/2013(Xem: 1921)
Để thảo luận vấn đề thường được nhiều người hỏi: sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì? Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy.
02/04/2013(Xem: 3689)
Nhìn lại thân thể của mình mỗi ngày là một trong những phương pháp thực tập rất căn bản của thiền học. Tiếp xúc với thân thể của ta bằng con mắt thiền quán, ta thấy sự có mặt của thân thể đối với ta là sự có mặt của một thực tại mầu nhiệm.
28/03/2013(Xem: 4353)
Phật dạy chúng sanh trong sanh tử vô minh từ vô thủy kiếp đến nay, gốc từ vô minh, do vô minh nên thấy biết và tạo nghiệp sai lầm. Biểu hiện của thấy biết sai lầm thì rất nhiều, trong đó sự thiếu sáng suốt và lòng tự mãn là biểu hiện nổi bật nhất. Đây cũng là căn bệnh trầm kha của đa phần những con người bảo thủ, sôi nổi, nhưng lại nhìn chưa xa, trông chưa rộng. Từ đó, cuộc sống của họ khung lại trong cái vị kỷ nhỏ hẹp, phiêu bồng trôi giạt theo từng bước vong thân.
27/03/2013(Xem: 2576)
Một vị vua là một người cai trị thuộc dòng dõi hoàng gia. Đức Phật xác định, một vị vua là “vị thủ lĩnh của những người đàn ông”. Các tôn giáo khác nhau có những lý luận khác nhau về nguồn gốc và bản chất của một vị đế vương.
26/03/2013(Xem: 2563)
Tốt và xấu là những tiêu chí để đánh giá đạo đức. Thông thường, một người tốt được nghĩ là một người có đạo đức, và ngược lại. Cũng như vậy, những hành vi được xem là tốt khi hành vi ấy tuân theo những nguyên tắc đạo đức nào đó; và ngược lại, những hành vi được coi là xấu khi chúng chệch ra khỏi những nguyên tắc đạo đức.
07/03/2013(Xem: 2808)
Luận Phật Thừa Tông Yếu là tùy thuận theo thời cơ lược nói về tông bản và cương yếu của Phật pháp. Thế nên bộ luận này cũng có tên là Khái Luận Về Phật Pháp Hiện Đại.
16/02/2013(Xem: 3805)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.
31/12/2012(Xem: 3396)
Theo nghĩa hẹp, nhẫn nhục là nhịn chịu mọi nhục nhã và mọi khó khăn trở ngại, và vượt qua chúng một cách bình ổn. Nhà Phật gọi những chướng duyên làm ngăn trơ ûsự tiến tu là ma chướng, gồm ngoại ma (trở ngại do người khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài gây ra)và nội ma (trở ngại từ chính thân tâm mình)
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
92,768,356