Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Đôi Nét Về Nguồn Gốc Của Chuông, Trống, Mõ

30/09/201005:39(Xem: 4254)
Đôi Nét Về Nguồn Gốc Của Chuông, Trống, Mõ
chuathienloc-chuong

Trong các chùa Phật giáo ở Trung Quốc và Việt Nam, một số loại thuộcpháp khí như chuông, trống, mõ được dùng để trang nghiêm nơi đạo tràng,hoặc thêm phần sắc thái lễ nhạc trong lúc tụng kinh, lễ sám, thuyếtpháp v.v... Những loại này xuất hiện từ hồi nào? Nhằm mục đích gì?...


Pháp khí có các loại: loại để trang nghiêm, loại để cúng Phật, loại đểbáo thời. Khí cụ dùng để báo thời gian trong tự viện gọi là kiền chùy.Theo các bản Kinh, Luật (Hán tạng) đã được dịch, kiền chùy là từ chỉchung cho các loại: chuông, trống...

I. Chuông

Chuông được phát hiện tại Trường An (khoảng 1000 năm trước Tây lịch -TTL, thời Châu Chiêu Vương) thuộc loại sớm nhất tại Trung Quốc. PGTrung Hoa đã đưa chuông vào các tự viện lúc nào, hiện nay chưa tìm ratài liệu khẳng định. Tuy nhiên, để tạm truy nguyên nguồn gốc của chúngcó thể dựa vào một số tài liệu. Cuốn Quảng Hoằng Minh tập (số 2103)trong Đại Chánh tân tu Đại Tạng kinh ghi rằng vào đời Lục Triều(420-479) đã có nhiều lầu chuông. Năm Thiên Hòa thứ năm (566) đời BắcChâu, bài Nhị giáo chung minh được khắc trên ba đại hồng chung lớn nhấtthời bấy giờ. Hai trong ba cái này được đúc vào năm 579 và 665 TL. Tụccao tăng truyện ghi năm thứ 5 đời Tùy Đại Nghiệp (609), ngài Trí Hưngnhận lo việc chuông tại chùa Thiền Định ở kinh đô Trường An. Trongkhoảng thời gian này trở về sau, Bắc Châu không ngừng đúc hồng chung đểan trí trong các tự viện.

Thời xưa có hai loại chuông được sử dụng trong các chùa chiền, tự viện:

1. Phạn chung (chuông phạn): cũng gọi là"đại chung", "hồngchung", "hoa chung" hoặc "cự chung". Chuông này được đúc bằng đồng xanhpha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1.5m, đường kính khoảng 6tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêutập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt mình thường dùng từ"đại hồng chung" chỉ cho loại chuông thật to, gần như không còn có quyđịnh cụ thể là rộng hẹp bao nhiêu nữa. Chuông này còn gọi là chuông Uminh.

2. Bán chung (chuông nhỏ):Vì chiều kích chỉ lớn bằng 1/2chuông phạn, nên gọi là bán chung, còn được gọi là "tiểu chung". Chuôngnày thường được đúc bằng đồng, cao khoảng 6 đến 8 tấc, thường để tạimột góc trong chánh điện và được sử dụng trong các buổi pháp hội, nêncòn có tên khác là "hành lễ chung". Người Việt Nam cũng như các nướckhác ngày nay linh động chế tạo nhiều loại chuông dạng "bán chung" này,nhưng cũng không có kích thước cố định.

Ngoài ra, trong thời cực thịnh của Thiền tông, chuông an trí tại Thiềnđường, gọi là "chuông Tăng đường", 'chuông trai"; chuông để tại chánhđiện gọi là "chuông điện"... Những vị lo việc chuông này gọi là "chungđầu".

Về thỉnh chuông, xưa ở Trung Quốc tùy mỗi tông phái, từng địa phương màquy định có khác nhau, nhưng tổng quát khi bắt đầu thỉnh 3 tiếng và kếtthúc đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi chín tiếng cho các loại chuông nhỏkhi tụng kinh. Số lượng tiếng thường là 18; cũng có khi thỉnh 36 tiếng,108 tiếng. Thỉnh 108 tiếng biểu thị hành giả nỗ lực làm vơi cạn đi 108phiền não nơi nội tâm. Mười tám tiếng là biểu thị sự thanh lọc 6 căn, 6trần và 6 thức.

II. Trống

Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đất đá, cây,đồng v.v... Tài liệu văn học liên quan đến "trống" ở Trung Quốc rấtphong phú. Theo sách Lễ ký phần Minh đường, từ năm 2300 năm TTL vềtrước, nước họ đã có loại trống do cỏ kết lại thành. Trung Quốc thờixưa dùng nó trong các dịp lễ lộc, vũ hội... Loại hình có to, nhỏ, treohoặc để trên giá... Trống to gọi là trống tẩu, nhỏ gọi là trống ứng,treo để đánh gọi là trống treo... Trong đó, một số loại chính do cácbậc hiền triết sáng tạo ra, còn số nữa do từ Tây Vức truyền đến. Trongtự viện, trống cùng với chuông được đặt ở hai bên chánh điện theo vịtrí "tả chung hữu cổ".

Trong Phật giáo, kinh Lăng Nghiêm ghi lại thuở Đức Phật còn tại thế,trống được dùng để báo hiệu giờ cơm (thực biện kích cổ), bố tát. LuậtNgũ Phần nói chư Tỳ kheo đến lúc tụng giới nhưng tập họp không đúnggiờ, Đức Phật dạy nên đánh kiền chùy, đánh trống v.v... với mục đíchchính là không ngoài việc tập họp chúng Tăng. Từ đời Đường về sau, theothanh quy của thiền môn, trống là một trong những loại pháp khí dùnglàm hiệu lệnh báo thời sớm khuya, tối đến. Sau này Phật giáo Trung Quốctiến thêm bước nữa phối hợp nhịp điệu, âm thanh tiếng trống hòa cùngnhững lời tán tụng, phổ thành khúc điệu, biểu hiện "kỹ nhạc cúng dường,trang nghiêm đạo tràng", dùng âm thanh làm Phật sự, trợ giúp đại chúngphát tâm thành kính đối với Tam bảo.

III. Mõ:

Mõ có 2 loại:

1. Loại hình con cá thẳng dài treo ở nhà kho, nhà ăn đến lúc dùng cơm cháo gõ nó để báo hiệu.

2. Loại hình con cá có vảy cuộn tròn, khi tụng kinh thì gõ nó.

Theo sách Tham Thiên đài Ngũ Đài Sơn ký (quyển 3, Tống Thần Tông HyNinh năm thứ 5 ngày mồng 8 tháng 8) ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờtượng ngài Phó Đại sĩ, vị Trưởng lão viện chủ đánh mõ chiêu tập các vịtu hành, vị ấy chính là ngài Phó Đại sĩ... Thời đó, ngài muốn gặp cácvị tu đầu đà nơi cao sơn, chỉ gõ mõ, chư vị nghe xong tiếng mõ ấy liềnđến. Sau đó, các tự viện lớn nhỏ dưới chân núi đều dùng mõ để tập hợpđại chúng. Lại có người cho rằng mõ là do Sa môn Chí Lâm đời Đường tạora, nhưng do sự hạn chế của sử liệu chứng minh, điều này khó thuyếtphục mọi người. Ngoài ra, sách Tăng tu giáo uyển thanh quy (quyển hạ,phần Pháp khí) ghi lại truyền thuyết rằng có một vị Tăng do phản thầy,hủy pháp mà bị đọa làm thân con cá, trên lưng nó lại mọc một cái cây,mỗi khi sóng gió thổi đến, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng.Một lần nọ, thầy bổn sư qua biển, nhân đó nó muốn gây nợ liền nói rằngthầy không dạy để nó phải mang chịu làm thân cá thế này, do đó nên naynó muốn báo oán. Thầy hỏi nó tên gì, liền được trả lời tên là MỗGiáp... Thế rồi, thầy bảo sám hối cùng vì nó bạt độ. Ngay đêm ấy nóthoát thân cá, đồng thời đem cây ấy bỏ trong chùa, thầy lấy đẽo thànhhình con cá và treo lên để cảnh thức đại chúng.

Loại mõ tròn mà ngày nay dùng có thể là sản vật có từ đời Minh (TrungQuốc). Theo sách Tam tài đồ hội của tác giả Vương Tích đời Minh cóđoạn: "Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong,gõ sẽ phát ra tiéng, các hàng Phật tử khi tán tụng đều dùng đến nó".Theo sách Thích thị yếu lãm, chuông, khánh, ản đá, bản gỗ, mõ, cái thớtđều có khả năng phát ra âm thanh một khi gõ vào và nhờ đó mà đại chúngđược tập hợp, nên các loại đó đều gọi là kiền chùy. Sách Sắc tu BáchTrượng thanh quy chương Pháp khí nói khi dùng cơm, khi phổ thỉnh Tăngchúng... đều gõ nó. Từ đây có thể hiểu lúc đầu mõ dài (loại 1) đượcdùng để tập họp Tăng chúng. Nhưng vì sao cả 2 loại mõ đều lấy hình dángcon cá? Sách Sắc tu Bách Trượng thanh quy nói rằng tương truyền loài cásuốt ngày đêm đều tỉnh, nên khắc hình con cá để mỗi khi gõ vào nó nhắcnhở mình tỉnh thức, chớ có hôn trầm, giải đãi. Lại nữa, tiếng mõ vớimục đích chính là giữ trường canh cho đại chúng lúc tụng kinh được nhịpnhàng.

IV. Vài ý tưởng khác

Thời xưa, không những Trung Quốc mà Ấn Độ và một số nước khác cũng đãsử dụng chuông, trống... Tại Ấn Độ dùng chuông, trống để báo thời gian,cảnh báo. Khi Đức Phật còn tại thế, dùng nó để tập hợp chúng Tăng bốtát, nghe pháp... Do đó luật Ngũ Phần ghi: "Chư Tỳ kheo bố tát, chúngbất thời tập, Phật ngôn: nhược đả kiền chùy, nhược đả cổ...". Theo cuốnA Dictionary of Symbols (London 1962, trang 23) rằng hình dáng củachuông xuất phát lấy từ hình tượng vòm trời. Âm thanh của chuông làbiểu tượng của năng lực sáng tạo. Chuông treo lơ lửng tượng trưng chosự huyền bí của trời đất.

Ấn Độ đã biết sử dụng chuông trên 2000 năm về trước. Có lẽ chuông đượcsử dụng rộng rãi trong cung đình, đặc biệt trong các chùa chiền. Cáchình thức nghệ thuật như điêu khắc chùm chuông xuất hiện vào thời kỳđầu của Phật giáo được tìm thấy trên các bức phù điêu tại các trụ đácủa vua A Dục (Asoka) và các tháp tôn trí Xá lợi Đức Phật. Không riêngtại Ấn Độ mà ngay cả các nước lân cận chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn hóaẤn Độ như Sri Lanka, Myanmar cũng sử dụng chuông và sau này cả trốngnữa, để biểu hiện lòng thành của người cầu nguyện, đặc biệt dùng khichấm dứt một khóa lễ.

Trong các dịp tưởng niệm Đức Phật, các chuông được sử dụng với một sốnhạc khí khác như trống, sáo để biểu hiện lòng tôn kính Đức Phật. Tácphẩm Saddharmlankra (một tác phẩm văn học tôn giáo thời trung đại củangười Sri Lanka) ghi rằng: chuông đươc sử dụng đầu tiên ở Sri Lanka vàonhững dịp đặc biệt như triệu tập Tăng chúng. Sau này dần dần nó trởthành một phần của nghi lễ cúng dường âm nhạc đến Đức Phật.

Tín đồ PG Tây Tạng tin rằng khi họ niệm chú, nhờ sức quay chuông của họmà các câu thần chú sẽ đi muôn nơi vạn hướng, làm vơi bớt nỗi khổ đaucủa cuộc đời. Cho nên Phật giáo Tây Tạng chế nhiều cỡ chuông cầm taycho tín đồ trì niệm và cả những chuông lăn lớn để tín đồ quay.

Dĩ nhiên, các loại chuông trống ở Ấn Độ thuở ban đầu không giống vớicác loại chuông trống ngày nay ở Trung Quốc hay Việt Nam. Trung Quốcthuở xưa, trống chỉ được sử dụng để thúc quân ra trận. Chuông (một hìnhthức của chiêng) được sử dụng như dấu hiệu của rút quân. Trống phần lớncũng để triệu tập ba quân tướng sĩ hoặc kêu oan ở cửa quan. Loại trốngnày được sử dụng rộng rãi về sau trong giới quan lại để hành quyết tộinhân ở pháp đường.

Tóm lại, chuông trống từ thời xưa đã được dùng trong lễ hội cung đìnhvà giữ vai trò trọng yếu trong âm nhạc. Qua đây, nó là một trong nhữngloại công cụ nhạc khí dùng để diễn đạt, giao lưu tư tưởng, tình cảm,dùng trong chiến đấu, cúng tế, trong lĩnh vực tôn giáo v.v... Chuông,trống được đưa vào PG từ khi Đức Phật còn sanh tiền với mục đích tậphợp chúng Tăng. Về sau, chuông, trống, mõ được dùng trong các nghi lễđể trang nghiêm đạo tràng, làm hiệu lệnh báo thời sớm tối. Sau đó, tiếnthêm bước nữa, phối hợp tiếng chuông, trống, mõ, hòa cùng những lời tántụng để trợ giúp đại chúng trong việc tu học, làm Phật sự lợi lạc quầnsanh, hướng họ đến bến bờ giác ngộ.

THÍCH GIÁC DUYÊN
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/01/201201:56(Xem: 5330)
Xưng là Tứ Thiên Vương bởi vì bốn vị Thiên Vương này ở bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Tứ Đại Thiên Vương là thần tướng của vua trời Đế Thích, ở núi Kiền Đà La...
12/05/202016:20(Xem: 2115)
Pháp Hồng Danh Sám Hối này cũng thuộc về sự, do Ngài Bất Động Pháp Sư đời Tống bên Trung Hoa soạn ra. Ngài rút 53 danh hiệu Phật trong Kinh "Ngũ Thập Tam Phật " tức là từ đức Phật Phổ Quang cho đến Phật Nhứt Thế Pháp Tràng Mãn Vương, và rút 35 hiệu Phật trong Kinh "Quán Dược Vương, Dược Thượng" với pháp thân đức Phật A Di Đà, sau thêm vào kệ Phổ Hiền Đại Nguyện, thành nghi sám hối này, tổng cộng là 108 lạy, để ám chỉ trừ 108 phiền não.
05/04/201319:35(Xem: 3598)
Vái lạy đềⵠlà lễ nghi ở thời cổ đại, nhưng cả hai đều có chỗ khác nhau. Căn cứ vào quy định của lễ tục thời cổ đại thì vái chỉ cần cung tay chào chứ không cần phải quỳ. Tuy nhiên cả vái cũng phân biệt ấp trơn (còn gọi là ấp nhượng) và trường ấp tức vái dài.
04/10/201601:45(Xem: 1954)
Công an huyện Văn Giang (Hưng Yên) đang truy tìm nhóm trộm pho tượng cổ Phật bà nghìn tay nghìn mắt tại chùa Mễ Sở vào sáng 29/9. Đại diện Công an huyện cho biết, ngày 29/9, sư thầy Thích Đàm Lan, trụ trì chùa Mễ Sở cùng ni cô phát hiện pho tượng đặt trang trọng tại tầng 2 ngôi chùa đã biến mất, khóa cổng bị phá nên trình báo chính quyền. Trích xuất hình ảnh từ camera an ninh của nhà chùa cùng thông tin khai báo của sư Lan, công an xác định vụ việc xảy ra lúc hơn 1h ngày 29/9. Nhóm trộm 4-5 người ra tay rất chuyên nghiệp, có sự tính toán từ trước. Để tránh bị camera ghi hình, một tên dùng sào bịt vải che đầu ống kính; các tên còn lại cạy cửa chùa, lên gác, tiếp cận pho tượng.
05/04/201319:31(Xem: 4090)
Cúng dường Phật hay cúng dường Xá lợi Phật, công đức tạo được ngang bằng như nhau. Vì vậy khi đảnh lễ cúng dường Xá lợi, chúng ta nên thấy rằng mình đang trực tiếp đảnh lễ cúng dường đức Phật và chư thánh giả. Trong Kinh Sư Tử Hống, đức Phật dạy: “Dù là bây giờ / cúng dường Như Lai, . . .
07/09/201013:27(Xem: 1860)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.
27/01/201411:46(Xem: 4920)
Ba nghiệp lắng thanh tịnh Gửi lòng theo tiếng chuông Nguyện người nghe tỉnh thức Vượt thoát nẻo đau buồn.
08/04/201311:40(Xem: 5181)
Khai chuông: 7 tiếng nhỏ và 3 tiếng lớn. Nam Mô A Di Đà Phật ( 3 lần) O ( buổi tối) Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 3 lần) O ( buổi khuya) Nguyện tiếng chuông này vượt ngoài pháp giới Núi Thiết Vi u ám thảy đều nghe, . . .
08/04/201311:41(Xem: 9163)
Nguyện tiếng chuông nầy ngân khắp cõi Thiết-vi ngục tối thảy xa nghe Cõi trần trong sạch đều thông suốt Giác ngộ sanh linh cả mọi loài. (0) Nghe chuông phiền não nhẹ lâng lâng Bồ đề thêm lớn Tuệ sáng ngần
21/04/201105:51(Xem: 6994)
Khai chuông: 7 tiếng nhỏ và 3 tiếng lớn. -Buổi sáng niệm: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) (0) -Buổi tối niệm: Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật (3 lần) (0) Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới, Thiết vi u ám tất giai văn, Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác. (0) Nguyện tiếng chuông nầy ngân khắp cõi Thiết-vi ngục tối thảy xa nghe Cõi trần trong sạch đều thông suốt Giác ngộ sanh linh cả mọi loài. (0)