11 - Bàn về Tọa Thiền

24/04/201318:02(Xem: 14495)
11 - Bàn về Tọa Thiền


Khóa Hư Lục
Tác giả:Hoàng Đế Trần Thái Tông
Dịch giả:HT. Thích Thanh Kiểm

---o0o---

QUYỂN THƯỢNG

---o0o---

Bàn Về Tọa Thiền

Ôi! Những người học đạo, chỉ cần thấy tính. Dù có thọ hết thẩy tịnh giới, nếu không tọa thiền sức định khó sinh. Định lực chẳng sinh, tức vọng niệm chẳng diệt, mà muốn thấy tính, quả thật là khó.

Thích-Ca Văn-Phật vào núi Tuyết-Sơn, ngồi định sáu năm. Chim thước làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế, thâm tâm vẫn tự như. Tư-Cơ dựa ghế (1) ngồi, hình như cây khô, tâm như tro nguội. Nhan-Hồi tọa-vong (2), rời thân thể, bỏ phán đoán, lìa ngu trí, cùng thông với đại-đạo. Đó là những cổ-đức Thánh-Hiền trong 3 giáo, cũng từng lấy ngồi định mà thành tựu.

Song đi, đứng, nằm, ngồi cũng đều là Thiền, không chỉ ở ngồi. Bởi vì, đi thì phóng bước, đứng lại sinh mỏi, nằm thời mờ tối nhưng yên tĩnh. Yên tĩnh tất mối nghĩ sinh, mỗi nghĩ sinh thì niệm khởi. Muốn tắt mọi niệm, phải tập tọa-thiền. Nếu khi ngồi thiền chẳng tắt mọi niệm thời tâm vượn nổi dậy, ý ngựa lông bông. Hoặc do loạn tưởng mà biết tiền trần, hoặc do vô-ký mà quên tự-tính. Dựa ghế tựa vách, nhắm mắt che con ngươi, ngủ say chảy dãi, cúi đầu khom lưng, tuy mượn danh là tọa-thiền, nhưng cũng như người ngồi trong núi đen, hang quỉ. Hoài-Nhượng thiền-sư nói: "Mài ngói làm gương là nghĩa thế vậy".

Vả lại, Thiền có 4 thứ:

1) Người làm kế lạ, vui cao chán thấp mà tu là ngoại đạo thiền.

2) Người chính tín nhân-quả, cũng vui chán mà tu là phàm-phu thiền.

3) Người liễu lý sinh không, chứng đạo thiên-chân mà tu là tiểu-thừa thiền.

4) Người đạt nhân, pháp đều không mà tu là đại-giáo thiền. Kẻ hậu học đời nay, nên lấy đại-giáo-thiền làm chính. Đó là tập tọa-thiền dứt vọng niệm, chớ sinh ngờ vực.

* Chú thích:

(1) Tử-Cơ dựa ghế: Dịch chữ Tử-Cơ ẩn kỷ. Sách Trang-Tử, Tề-vật-luận chép: Nam-Quách Tử-Cơ, tựa ghế mà ngồi, ngửa mặt lên trời mà xem hơi thở (ẩn kỷ nhi tọa, ngưỡng thiên nhi hư).

(2) Nhan Hồi tọa-vong: Nghĩa là ông Nhan-Hồi ngồi ngay ngắn, tâm vẳng lặng, quên cả vật và mình, vượt cả tướng sai biệt, tâm cảnh dung thông vô ngại. Thơ Bạch-Cư-Di- viết: "Hành Thiền dữ Tọa-vong, đồng qui vô dị lộ" (Tọa-Thiền và Tọa-Vong cùng giống nhau).

---o0o---

Vi tính: Việt Dũng

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9446)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 28056)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7537)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 6948)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 14902)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5227)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5166)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20629)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6804)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 11017)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.