Lần Chuyển Pháp Luân Thứ Hai

15/12/201015:23(Xem: 18579)
Lần Chuyển Pháp Luân Thứ Hai

TỔNG QUAN

VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Nguyên tác: A Survey Of The Paths Of Tibetan Buddhism
Tác giả: His Holiness Tenzin Gyatso 14th Dalai Lama of Tibet
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 19/06/2010
Làng Đậu hiệu đính

LầnChuyển Pháp Luân Thứ Hai

Trong lần chuyển pháp luânthứ hai, đức Phật đã dạy về Trí huệ Toàn Thiện hay Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa, trên đỉnh Linh Thứu, ngoại thành VươngXá.

Lần chuyển pháp luân thứ hainên được xem như sự mở rộng trên các chủ đề mà đức Phật đã từng dẫn giải tronglần chuyển pháp luân thứ nhất. Trong lần chuyển thứ hai này, Ngài đã dạy khôngchỉ trên chân lý về khổ đau, rằng đau khổ nên được nhận ra như khổ đau, mà cònnhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện cả khổ đau của riêng mình cũng nhưđau khổ của toàn chúng sinh, vì thế nó bao quát hơn rất nhiều. Khi Ngài dạy vềcội nguồn của đau khổ trong lần chuyển pháp luân thứ hai, Ngài cho thấy khôngchỉ đơn thuần những cảm xúc phiền não, mà cả những dấu vết vi tế lưu lại bởichúng, vì thế điều giải thích này là thậm thâm hơn.

Chân lý về diệt độ [Diệt Đế]cũng được giải thích một cách sâu xa hơn nhiều. Trong lần chuyển pháp luân thứ nhất,sự diệt độ chỉ đơn thuần được xác minh, trái lại trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đađức Phật giải thích bản tính của sự diệt độ này và các đặc trưng của nó trongnhững chi tiết sâu rộng. Ngài đã diễn tả lộ trình mà trong ấy những khổ đau cóthể chấm dứt và thể trạng được gọi diệt độ hay Diệt Đế là gì.

Tương tự, chân lý về đạopháp được đề cập một cách sâu xa hơn trong KinhBát-nhã Ba-la-mật-đa. Đức Phật đã dạy lộ trình đặc trưng bao hàm sự thực chứngvề tính Không, bản tính của mọi pháp, phối hợp với lòng bi mẫn và tâm thức giácngộ, nguyện ước vị tha để đạt đến giác ngộ vì lợi ích của toàn thể chúng sinh.Do bởi Ngài nói về sự hợp nhất phương tiện và trí huệ trong lần chuyển pháp luân thứ hai, nên chúng ta thấyrằng lần chuyển thứ hai mở rộng và phát triển trên cơ sở lần chuyển pháp luânthứ nhất.

Mặc dù bốn chân lý cao quýđược giải thích một cách thâm sâu hơn trong lần chuyển pháp luân thứ hai, điềunày không phải là bởi vì có các tính năng nào đó được giải thích trong lần thứhai mà không được giải thích trong lần thứ nhất. Đó không phải là lý do, bởi vìnhiều chủ đề được điễn giải trong các hệ thống không Phật giáo vốn không đượcgiải thích trong Đạo Phật, nhưng điều đó không có nghĩa rằng những hệ thốngkhác là thậm thâm hơn Phật giáo. Lần chuyển pháp luân thứ hai giải thích vàphát triển những khía cạnh của bốn chân lý cao quý, mà đã không được diễn giảitrong lần chuyển pháp luân thứ nhất, nhưng điều ấy không mâu thuẩn với cấu trúctổng quát của đạo pháp Phật giáo được diễn tả trong lần diễn giải thứ nhất. Dovậy, sự diễn giải được tìm thấy trong lần thứ hai được nói là thậm thâm hơn.

Tuy thế, trong các luận bàncủa lần chuyển pháp luân thứ hai, chúng ta cũng tìm thấy những trình bày màchúng thật sự mâu thuẩn với cấu trúc chung của đạo pháp như được diễn tả tronglần thứ nhất, vì thế Đại thừa nói về hai loại kinh điển, một số tiếp nhận giátrị bề mặt và tư tưởng đúng như văn tự trình bày [nghĩa đen, liễu nghĩa], tráilại một số khác đòi hỏi sự diễn dịch xa hơn [nghĩa diễn dịch, bất liễu nghĩa].Do vậy, căn cứ trên sự tiếp cận của Đại thừa về bốn sự xác tín [tứ pháp y],chúng ta phân chia kinh điển thành hai phạm trù, liễu nghĩa và bất liễu nghĩa.

Bốn loại xác tín này bao hàmsự hướng dẫn nương tựa trên giáo huấn, không phải trên người [nói pháp] [y phápbất y nhân]; trong các giáo lý, nương tựa trên ý nghĩa, không chỉ đơn thuầntrên ngôn ngữ [y nghĩa bất y ngữ]; dựa vào các kinh điển liễu nghĩa, không phảinhững kinh không liễu nghĩa [y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa]; và dựa vào sựthấu hiểu sâu xa của trí huệ, không phải trên kiến thức của sự thấy biết thôngthường [ý trí bất y thức].

Sự tiếp cận này có thể tìmthấy trong ngôn từ của chính đức Phật, khi Ngài nói, “Này các vị Tỳ kheo và người thông tuệ, đừng chấp nhận những gì ta nóichỉ vì tôn kính ta, mà điều trước nhất là sự kiểm nghiệm phân tích và nghiêm ngặt.”

Trong lần chuyển pháp luânthứ hai, Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa , đức Phật đã giải thích xa hơn về chủ đề diệtđộ, đặc biệt với sự quan tâm đến tính Không, trong một phương cách hoàn bị và rộngrãi hơn. Do thế, tiếp cận Đại thừa là để diễn dịch những kinh điển ấy trong haicấp độ: ý nghĩa văn tự, quan tâm đến sự trình bày về tính Không, và ý nghĩa tiềmẩn [mật nghĩa] quan tâm
đến sự giải thích những tầng bậc của đạo pháp.

tongquan-05

Đức Phật Di-lặc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 14020)
Bạch tản cái đại phật đỉnh vương tối thắng vô tỷ đại uy đức kim cương vô ngại đại đạo trường đà la ni niệm tụng pháp yếu
08/04/2013(Xem: 12390)
Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai có toàn thân màu xanh ngọc bích, ngự trong cung điện báu trên tòa sen trăm báu (Bách Bảo Liên Hoa tòa) , nhập vào Tam Muội ĐẠI KHÔNG phóng tỏa ra vô số ánh sáng.
08/04/2013(Xem: 8643)
Nạp mộ hạt lạt đát na đát lạt dạ gia ( 1 ) Nạp mộ a lạt-gia ( 2 ) Phộc lô chỉ đê thấp phiệt la gia ( 3 ) Bộ địa tát đỏa gia ( 4 ) Mô ha tát đỏa gia ( 5 ) Mô ha ca lô nặc ca gia ( 6 ) Đát điệt tha ( 7 )
08/04/2013(Xem: 7746)
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Phật Bạc Già Phạm khéo hay thành tựu Uy Đức, Tam Ma Gia, Trí, mọi Công Đức tối thắng hiếm có của Kim Cương. Ngài đã được mão báu Quán Đỉnh của tất cả Như Lai, vượt qua ba cõi. Ngài đã chứng nhập Trí Diệu Quán Sát, Pháp Đại Du Già của tất cả Như Lai, vô ngại tự tại.
08/04/2013(Xem: 14566)
Chuẩn Đề được dịch âm từ các tên Phạn là Cundì , Cunïtïi , Cunïdïhi , Kunïdïi , Cunõdhe , Cunde, Cumïdi , Cumïdhe , ‘Suddhe ( Trong các tên Phạn này thì 2 tên thường được dùng là Cunõdhe với ‘Suddhe ) và được phiên dịch theo các ý nghĩa là Khiết Tĩnh, Thanh Tịnh, Diệu Nghĩa, Minh Giác, Hộ Trì Phật Pháp.
08/04/2013(Xem: 13423)
Bấy giờ Bồ Tát Phổ Hiền quan sát Người, Trời xót thương tất cả không ngưng nghỉ, tự nói rằng:”Tất cả chúng sinh: 4 Đại luôn thay đổi không ngừng, có mọi thứ bệnh, hoặc Quỷ Ma đến gây ra mọi thứ bệnh mê đảo Thế Gian giảm bớt Thọ Mệnh. Làm sao đối trị được mọi thứ gây tổn hại bên trong bên ngoài như vậy?
08/04/2013(Xem: 10465)
Khi mới vào Đạo Trường phải chí Tâm làm các việc : Đỉnh lễ, sám hối, phát nguyện, hồi hướng. Xong liền kết An Liên Hoa, chắp 2 tay lại giữa rỗng như hoa Phù Dung chưa nở. Tụng Nhất thiết Pháp thanh tịnh chân ngôn rồi đặt An vào trái tim, vầng trán, cổ họng, đỉnh đầu mỗi chỗ đều tụng Chân Ngôn một biến liền được thanh tịnh . Chân Ngôn là :
08/04/2013(Xem: 11422)
Mật Tạng Bộ 1_ No.880 (Tr.338_ Tr.339) DU GIÀ KIM CƯƠNG ĐỈNH KINH THÍCH TỰ MẪU PHẨM Hán dịch: Chùa Đại Hưng Thiện_ Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí BẤT KHÔNG phụng chiếu dịch Việt dịch : HUYỀN THANH
08/04/2013(Xem: 9704)
Trước tịnh : Thân, Khẩu, Ý Quy mệnh Phật, Pháp, Tăng Kính lễ Biến Chiếu Tôn Biến Chiếu Tôn Biến Chiếu Tôn Các Thánh Chúng mười phương Nay Ta lược diễn bày Pháp Tiêu Tai Tiêu Tai Tiêu Tai Bí Mật Thế Tôn nói Pháp này Là tối thắng bậc nhất Mau ra khỏi sinh tử Chóng chứng Đại Bồ Đề Vì thuận Giới chúng sinh Nói Pháp Trừ Tai Nạn
08/04/2013(Xem: 7319)
” Con đã gom chứa căn lành qua sự : Lễ Phật, Sám Hối, Khuyến Thỉnh, Tùy Hỷ. Con xin đem Phước đã gom tụ được Hồi Hướng cho tất cả hữu tình, nguyện khiến cho hết thảy đều được vào Mật Tạng của Ba Đức “